Đời thủy thủ

vnthuquan.org

Vũ Thất

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Trên đường lên Đài Chỉ Huy, khi đi ngang cửa buồng ngủ của Hạm Trưởng, bất chợt ông nói:

– “Sẵn ghé qua thăm ‘giang sơn’ của tôi cho biết.”

Không cần tôi đồng ý, ông bước đến xoay cần rồi kéo mở cánh cửa sắt nặng nề. Tôi điếng hồn nghĩ là mình đã bị sập bẫy. Giang sơn của ông hẳn là nơi dành cho ông ngủ nghỉ, nếu tôi bước vào chẳng khác tự chọn tử địa. Và thê thảm hơn, chỉ có tôi với ông và chiếc giường. Tôi có la làng, dù tiếng la vượt ra ngoài, người làng cũng toàn là người của ông. Nhưng phải liều thì mới biết gian buồng có đúng là nơi đặt bom hiệu quả nhất. Nếu không, ít nhất cũng thấy tận mắt cấu trúc phòng Hạm Trưởng để lập báo cáo khi tổ chức cần đến.

Tôi cân nhắc tình thế thật nhanh. Ông cao hơn tôi chút đỉnh nhưng có vóc dáng như tài tử hơn là võ sư. Trường hợp ông sàm sỡ, nếu ông coi thường cảnh cáo, tôi thừa sức đối phó. Cùng lắm thì hạ sát, kéo ông ném xuống biển, coi như tai nạn.

Hạm Trưởng bật đèn. Gian phòng tăm tối đột ngột sáng choang, bày ra một không gian rộng gấp ba căn buồng của Hạm Phó. Sự hòa hợp giữa đèn huỳnh quang và màu đọt chuối các vách phát ra độ sáng mát mắt. Tôi mạnh dạn bước vào. Độ lạnh dường như có phần thấp hơn các nơi khác trong lòng tàu. Tôi hít một hơi dài để thêm dũng khí. Mùi khói thuốc thơm dịu. Tôi thấy cần nhớ tên hiệu thuốc hút này để yêu cầu Hưng thay đổi. Tôi quá sợ mùi Bastos khét nghẹt. Ngay bên phải cửa buồng là một cầu thang thẳng đứng dẫn lên một cửa ô có nắp đậy với vòng tròn vặn đóng mở. Ở góc bên trái là một bệ để đèn đọc sách. Liền với bệ đèn là chiếc ghế bành trông thật êm ái. Bên trên là kệ sách dài, đa số là sách khảo cứu, triết học. Một số tiểu thuyết Việt, Anh, Pháp. Tiếp đến là một bàn viết như của Võ Bằng với ba khung hình. Khung ở giữa là hình ông bà Hạm Trưởng với hai con một gái một trai ba bốn tuổi. Bên phải có lẽ là hình đại gia đình. Và bên trái là hình “tân lang tân gia nhân” phía dưới có ghi ngày 17/11/1962. Tôi tính ngỏ lời khen xã giao thì lại phân vân không biết xưng hô thế nào. Gọi là ‘vợ của Thiếu tá’, ‘bà nhà’, ‘phu nhân’? Tôi chọn từ bình dị:

– “Chị quả là đẹp. Không uổng công hai năm đeo đuổi!”

Hạm Trưởng mỉm cười, bước đến đứng cạnh tôi:

– “Vất vả lắm, cô Phượng ơi! Chỉ mong Hạm Phó của tôi không phải cần đến hai năm!”

Để tránh trả lời, tôi nhấc khung hình giữa ngắm nghía rồi kêu lên:

– “Cháu gái giống mẹ quá!”

– “Có ‘gen’ Nha Mân mà!” Hạm Trưởng cười hể hả.

Nhìn nét bụ bẫm của bé gái tôi nghĩ đến tấm hình tương tự của tôi. Ba mẹ tôi cho rọi lớn, treo ở vị trí dễ thấy nhất. Cho tới bây giờ khung hình vẫn ở nguyên vị trí đó. Ba mẹ tôi nói, ngày nào cũng xem hình cho đỡ nhớ. Tất nhiên ông Hạm Trưởng cũng nhớ con mình không kém. Hẳn mỗi ngày ông đều ngồi đây ngắm vợ con. Những khuôn mặt tươi vui của mọi người trong gia đình ông làm tôi rủn chí. Theo Hưng, lính “Ngụy” rất tàn ác, đáng giết từng người. Chứng cớ tàn ác đâu không thấy chỉ thấy tay mình sắp nhuộm đầy máu, chỉ thấy chính mình phá nát ít nhất vài gia đình. Tôi chợt nghĩ đến một phép thử. Tôi đi qua bộ bàn bốn ghế đặt giữa phòng và đứng lại trước chiếc giường. Nếu ông ôm vật tôi để cưỡng bức, tôi sẽ ra tay không tiếc thương. Tôi nhìn ông cười nói:

– “Chiếc giường của Thiếu tá trông ngon lành hơn giường của Hạm Phó!”

Mi mắt ông chớp nhanh, ánh mắt vui tươi, giọng chân tình:

– “Chỉ là bù đắp nhỏ so với trách nhiệm lớn.”

Thấy hai điện thoại trên chiếc bàn thấp bé cạnh đầu giường, tôi gợi ý:

– “Hạm Trưởng đúng là ‘Magister Post Deum’, một mình có đến hai điện thoại. Hẳn ngày nào Hạm Trưởng cũng ‘thả lời ong bướm’ với… phu nhân?”

Ông lắc đầu, cười:

– “Được thế thì còn gì bằng! Nhưng tiếc là cả hai đều dành cho công vụ. Một để liên lạc nội bộ trên tàu. Còn một mang chữ HOTLINE để liên lạc với các bộ tư lệnh Hạm Đội và các vùng. Từ ngữ ‘HOTLINE’ hẳn đủ cho cô hiểu ý nghĩa của nó!”

Thấy ông vẫn lịch sự coi tôi như một ‘khách quý’, tôi xúc động bước qua khu vệ sinh mà tưởng rằng đang bước từ ác cảm qua thiện cảm. Dãy tủ thấp tủ cao không còn hấp dẫn để cất giấu quả bom, trái lại, khung ảnh tràn đầy hạnh phúc bắt đầu ám ảnh. Gian buồng thật tiện nghi, ấm cúng, gọn gàng này hẳn nhiều lần tiếp đón gia đình Hạm Trưởng. Tôi đành lòng nào cho nổ tan tành…

Khi đến cửa ra, tôi chân thành nói:

– “Phòng của Hạm Trưởng trông thấy mà mê! Chừng nào Hải Quân thu nhận nữ giới, tôi xin gia nhập tức khắc…”

Nói xong, tôi mới thấy mình ngớ ngẩn. Vừa muốn chống Mỹ cứu nước, vừa muốn làm lính Ngụy. Tôi lại vừa khám phá mình cũng chẳng còn có chút gì cảnh giác.

– “Cứ cái đà đánh đấm mãi thế này thì chắc cũng đến lúc các cô phải nhập ngũ thôi! Hải Quân một số nước, hiện tại đã có vài nữ Hạm Trưởng rồi.”

– “Thật sao?” Tôi ngạc nhiên kêu lên.

– “Có ra ngoại quốc mới thấy Hải Quân nước mình còn lạc hậu lắm! Hy vọng đời con cháu sẽ làm rạng rỡ Hải Quân Việt Nam.”

Không nghĩ ra lời đối đáp, tôi chỉ chiếc thang thẳng đứng, gợi ý muốn rời buồng:

– “Chiếc thang này dẫn đi đâu, thưa Thiếu tá?”

– “À! Nó đưa lên thẳng Trung tâm Chiến báo và Phòng Truyền tin. Hạm Phó đã đưa cô đến đó?”

– “Thưa rồi.”

– “Vậy thì mình lên thẳng Đài Chỉ Huy, không qua các nơi này.”

Hạm Trưởng đưa tay quay cần ngang và đẩy cửa mở. Tôi bước theo ông ra ngoài, người lâng lâng nhẹ nhõm. Tình huống xấu tôi chờ đợi đã không xảy ra. Những gì tôi đã nghe, trái ngược những gì tôi đang trải nghiệm. Kèm với cảm giác an toàn là niềm cảm kích trước thân tình và tư cách của Hạm Trưởng. Ông có đủ uy quyền và cơ hội áp đặt dục vọng vào tôi nhưng trái lại toàn là những cử chỉ lời lẽ thân ái, ân cần. Tôi vẫn nôn nao theo ông lên Đài Chỉ Huy nhưng không vì tìm nơi đặt bom mà vì muốn nhìn cái vịnh nổi tiếng lịch sử, là nơi trú ẩn tránh bão của đoàn chiến thuyền Nguyễn Ánh trên đường ra Quy Nhơn tử chiến với quân Tây Sơn…

Tiếng hô ‘nghiêm’ nhỏ mà sắc khi Hạm Trưởng đặt chân lên thềm Đài Chỉ Huy. Tên Mỹ và toán đương phiên đồng loạt đưa tay chào. Hạm Trường chào đáp. Đó là hình ảnh lạ và đẹp mắt lần đầu tôi thấy trên đời. Toán trực phiên chào xong, quay lui, nghiêm chỉnh đứng quan sát hướng mũi. Hạm Trưởng thư thả ngồi vào chiếc ghế nệm độc nhất màu nước biển, đưa mắt nhìn bao quát rồi nói với tôi:

– “Cô Phượng có thể đứng ở cánh trái.”

Đó là nơi Võ Bằng đang vẫy tay với tôi. Tôi vui mừng bước đến khoảng trống ngay sau anh chàng. Ở vị trí này tôi có thể quan sát toàn cảnh ngoài biển lẫn sinh hoạt trong Đài Chỉ Huy.

Đài Chỉ Huy có hình chữ nhật nằm ngang bên trên Trung tâm Chiến Báo, bốn bề là vách cao ngang thắt lưng. Các cột quanh bệ, chống đỡ cái nóc che bằng vải bố cùng màu xám đậm có độ cao vừa quá tên Mỹ. Phần trước hình cánh cung với tấm kính trong suốt chắn mưa gió.

Lần đầu đứng trên Đài Chỉ Huy của một chiến hạm, tôi rộn ràng ngây ngất như đang bay trên biển trời mênh mông. Một cảm giác bềnh bồng, lênh đênh theo cơn gió hâm hấp, thơm lành. Vẫn biển xanh bát ngát, vẫn trời xanh lồng lộng mà bỗng dưng vời vợi bao la. Tôi hít thở, hít thở rồi hít thở. Tôi đặt các ngón tay vào môi rồi ‘gửi gió cho mây ngàn bay’. Tình yêu của tôi bung ra ôm lấy mọi người chung quanh, ôm cả chiến hạm…

Mọi hình ảnh trước mắt đều dễ thương. Ở hai đầu kính chắn gió, hai thủy thủ mang ống dòm nghiêm chỉnh quan sát hải trình. Một thủy thủ đứng trước một vòng quay có những trục tủa từ tâm điểm trông y như bánh xe nước mía. Ngay trước mắt anh thủy thủ này là một khối tròn có mặt phẳng kẻ số 0 ở đáy, mỗi bên có vạch cách 5 độ đến độ 35. Một đầu kim hình mũi tên chỉ vào các con số này cho biết độ lệch của bánh lái theo lệnh ban hành. Thiếu úy Văn đứng tựa tay trên thành đài, bên phải ghế Hạm Trưởng. Tên Mỹ khoanh tay đứng bên trái, trông như Hạm Trưởng được hữu bật tả phù. Rải rác đây đó toàn là máy móc, dụng cụ lớn nhỏ tôi mới thấy lần đầu.

Thấy tôi chăm chú ngắm, Võ Bằng giải thích từng món. Trên một bàn trước ghế Hạm Trưởng là tấm hải đồ ven biển kẻ sẵn các hướng đi từ cửa vịnh Quy Nhơn đến cửa sông Lòng Tào. Giữa Đài Chỉ Huy là hai cột trụ, một thấp một cao, trên chóp của cả hai có một bộ phận như cái tô lớn khắc 360 độ quanh vành. Cái thấp là la bàn từ, cái cao là la bàn điện. Mặt tròn của la bàn từ thì đong đưa để tự tìm hướng Bắc địa từ, còn la bàn điện thì cố định, luôn luôn chỉ đúng hướng Bắc địa cực.

Tiếng Hạm Trưởng đột ngột vang lên:

– “Hạm Trưởng nhận quyền chỉ huy!”

Người mà tôi vừa cùng dùng cơm nói cười vui vẻ, vừa thân mật đưa thăm ‘giang sơn’ riêng, giờ đây là kẻ lạnh lùng đưa ra các mệnh lệnh sắc gọn. Mỗi lệnh Hạm Trưởng đưa ra, nhân viên thi hành ‘đáp nhận’ và sau đó xác nhận đã thi hành. Cây kim trước người lái đang chỉ số 0 qua số 5 đến số 10 bên phải. Chiến hạm từ từ quay mũi thẳng góc với bờ. Cây kim quay dần về số 0. Anh thủy thủ lái tàu nói to:

– “Đường 280.”

Võ Bằng nói nhỏ với tôi:

– “Không giống như vịnh Quy Nhơn chỉ một cửa với nửa vòng bên trái của vịnh là bãi cát, làng mạc, nửa kia là dãy núi liền với biển, vịnh Cam Ranh được bao bọc bằng vòng cung núi cao, án ngữ bởi đảo Bình Ba chia thành hai cửa ra vào. Chiến hạm đang hướng vào cửa lớn. Tiếng Hạm Trưởng:

– “Thiếu úy Văn nói phòng Truyền tin liên lạc Duyên Đoàn 26 cho ghe đón Hạm Trưởng vào bờ.”

Thiếu úy Văn bước đến một miệng loa có ống dẫn xuống bên dưới. Anh lặp lại lệnh Hạm Trưởng. Tôi nghe tiếng đáp cũng phát từ miệng loa:

– “Phòng Truyền tin đáp nhận hành.”

Phải mất gần nửa giờ chiến hạm mới đến ngang cửa vịnh. Từ cửa nhìn vào, vịnh có dạng một thảm xanh hình tròn long lanh phản chiếu nắng chiều. Vô số ghe không mui, không người dọc mé bờ bên trái. Hai ghe ngoài cùng có cặp chèo gác xuôi. Trên bãi là những chiếc thuyền thúng trơ trọi phơi mình. Cao hơn, sườn núi hình cánh cung hoang vu xám xịt, lem luốc. Bầu trời như xanh hơn trên các đỉnh chập chùng. Một cụm mây có đường viền rực sáng vắt ngang. Rải rác giữa vịnh, một số thương thuyền bề thế im lìm như say ngủ. Dọc theo bờ phải là bãi cát vàng trải dài nối liền vùng cây xanh cuối vịnh ẩn hiện xóm làng.

Con tàu chậm chạp hướng về bờ phải, hiện rõ dần nhiều tàu quân sự đang ủi bãi và bốn thương thuyền khổng lồ chiếm bốn chiếc cầu dài thẳng góc với bờ. Trên mỗi thương thuyền, vô số thùng chứa cồng kềnh chồng chất suốt mũi đến tận lái. Chạy dọc trên khu bãi là con đường nhựa bận rộn đủ loại xe. Bên kia đường, từng cặp ba dãy nhà tiền chế nằm cạnh nhau lúc theo chiều dọc, lúc chiều ngang. Trên các lối đi hẹp, thỉnh thoảng có những dáng người di chuyển. Xa hơn, một chiếc trực thăng vừa đáp tung bụi trắng trời, một chiếc còn vần vũ. Xa hơn nữa, một phi cơ màu nâu loang lổ đang phóng mũi lên vùng trời nhiều mây. Ông Hạm Trưởng đưa tay chỉ cho Hạm Phó:

– “Hai ngôi nhà ngói đỏ là khu Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Một để đào tạo Người Nhái, một cho Hạ sĩ quan và Thủy thủ chuyên nghiệp. Chúng ta nhân tiện ghé viếng thăm, biết đâu tôi và Hạm Phó sau này mỗi người điều hành một trường!”

Tôi cố nhướng mắt theo tay chỉ của ông. Xa bên trên các mái ngói đỏ là một trụ ăng-ten cao lêu nghêu, đơn độc. Lệnh Hạm Trưởng vang lên:

– “Nhận còi nhiệm sở neo.”

Anh Hạ sĩ đưa ngón tay nhấn một nút trên vách. Nhiều tiếng còi te tít vang lên. Hạm Trưởng quay sang nói với Võ Bằng:

– “Hạm Phó xuống kiểm soát neo và chờ tôi ở sân giữa.”

Tôi nhìn theo dáng Bằng thấp dần trên cầu thang. Mãi đến lúc này tôi mới thấy chiếc chiến thuyền có dạng ghe đánh cá, mui màu xám đậm với hai gạch chéo màu vàng đang chạy song hành cùng tàu. Một thủy thủ đứng cùng với khẩu súng bắn dây ở mũi, hai người đứng phía sau cùng hai khẩu bên hông. Các nòng súng được bọc kín và chĩa thẳng lên trời. Thấy tôi từ Đài Chỉ Huy nhìn xuống, tất cả nồng nhiệt vẫy tay với vẻ ngạc nhiên. Tôi cũng nồng nhiệt vẫy tay đáp lễ.

Khi chiến hạm tiến ngang dãy cầu tàu, Hạm Trưởng ra lệnh ngừng máy. Con tàu tiếp tục lướt tới nhưng chậm dần. Hạm Trưởng ra lệnh ‘máy lùi’ rồi ‘máy ngưng’. Mãi khi con tàu còn trớn lùi thật chậm, ông mới ban lệnh thả neo. Tôi nhìn dây neo tuôn khỏi trục quấn và chạy luồn qua một ô tròn ở gần mũi, nơi Trung sĩ Hoàng kiểm soát sáng nay. Tôi nghe nhân viên âm thoại báo cáo dây neo xuống nước từng đoạn 30 feet. Khi nghe đến số 210, ông cho lệnh ngừng thả. Tôi chợt có cảm giác người bị giật nhẹ, cùng lúc tôi cũng nhận ra lái tàu tạt dần qua trái rồi hướng cố định vào đám ghe câu. Sợi dây neo nghiêng dài trên mặt nước. Khi được báo cáo neo đã cắn, Hạm Trưởng nói ‘giải tán’ rồi bảo Thiếu úy Văn:

– “Hãy canh gác cẩn thận, không cho ghe xuồng gần tàu. Báo Phòng Truyền Tin cho một nhân viên mang PRC-25 theo tôi vào bờ. Nghi ngờ neo trốc, gọi Trung úy Cang và báo tôi ngay.” Ông quay sang tôi, tiếp lời: “Cô Phượng có thể ở trên đây ngắm cảnh, nếu muốn. Gặp lại cô sau.”

Ông hất mặt nói với tên Mỹ còn đứng xớ rớ ôm chiếc la bàn từ:

– “Go with me, Rick.”

– “Aye aye, Sir.”

Tiếng “sir” rõ ràng được phát ra mạnh, dứt khoát, biểu lộ sự tôn kính. Hạm Trưởng rời ghế, bước về phía cầu thang. Thiếu úy Văn hô “Nghiêm”. Các nhân viên và tên Mỹ đứng thẳng người đưa tay chào tiễn Hạm trưởng rời đài chỉ huy. Tôi phát giác mình cũng đang đứng thế nghiêm như mọi người. Khi Hạm Trưởng đặt bước chân lên nấc thang đầu tiên, Thiếu úy Văn hô “Nghỉ”. Đến lúc đó tên Mỹ mới bước theo Hạm Trưởng. Cả hai hướng về mũi tàu nơi Bằng đứng đợi. Bên hông phải, một chiếc chiến thuyền đang nhẹ nhàng cập vào. Bằng nhảy phóc từ tàu lên mui ghe. Tên Mỹ nhảy nối tiếp. Khi Hạm Trưởng ở tư thế sẵn sàng rời tàu, tiếng còi te-tí-tí-te vang lên từ anh Giám lộ đứng trước tôi. Khi ghe tách khỏi tàu, anh ngưng thổi và vói tay kéo lá cờ tam giác trắng có lằn đen nằm giữa, nhỏ cỡ một phần tư.

Một lần nữa tôi thấy hụt hẫng. Tôi có cảm tưởng Võ Bằng rời tàu mang theo cả “điểm tựa” của tôi. Tôi tự hỏi vì sao mình không xin đi theo. Rồi tự trả lời, nếu đi được, Hạm Trưởng đã cho phép…

Tôi nhìn theo chiếc chiến thuyền chở Bằng mỗi lúc một rời xa, bỏ lại tôi với năm người chỉ quen một. Cũng may Thiếu úy Hoàng Văn là người năng nổ và vui tính.

Tôi quyết định gọi là ‘anh’ thay vì ‘Thiếu úy’ cho thân mật, hy vọng anh bộc bạch nội tình.

– “Chào anh Hoàng Văn, tiếng còi và lá cờ vừa kéo lên có ý nghĩa gì vậy?”

– “Đó là hiệu còi tiễn Hạm trưởng rời tàu; còn lá cờ là hiệu kỳ của Hạm Trưởng, khi nó được treo lên, có nghĩa là vị chỉ huy của nó không có mặt trên chiến hạm.”

– “A, hay ho đấy!”

– “Nhưng ngược lại,” Hoàng Văn tiếp, “khi cô thấy hiệu kỳ của Đô Đốc thì có nghĩa vị này đang hiện diện trên tàu!”.

– “Ngộ quá hả! Mà hiệu kỳ Đô Đốc ra sao?”

– “Nó có hình chữ nhật nền xanh điểm các ngôi sao trắng, nhiều ít tùy cấp bậc. Nó cũng là hiệu kỳ của Thuyền Trưởng tàu buôn. Cô thử nhìn quanh các thương thuyền xem có chiếc nào treo loại cờ đuôi nheo này không?”

Thiếu úy Văn đưa tôi chiếc ống dòm. Tôi bước sang thành đài bên phải, ngắm chiếc neo chếch mũi chiến hạm:

– “Chiếc đầu tiên, không thấy treo hiệu kỳ Thuyền Trưởng; chỉ thấy quốc kỳ Việt Nam và lá cờ ba sọc vàng xen kẽ ba sọc xanh. Đó là cờ nước nào vậy?”

– “Nó dạng hình vuông và nhỏ chừng một phần tư cờ Việt Nam, đúng không?”

– “Đúng!”

– “Đó không phải là cờ quốc gia. Đó là hiệu kỳ chữ G, phát âm Golf, mang ý nghĩa là “cần hoa tiêu”. Tức là thương thuyền đó đã dỡ hàng xong, muốn có hoa tiêu hướng dẫn ra khỏi hải cảng. Khi đến, cũng vậy, thương thuyền phải neo ngoài vịnh, phải treo hiệu kỳ này và chờ hoa tiêu đưa vào. Khi đã có hoa tiêu trên tàu thì phải treo cờ chữ H, đọc Hotel. Khi tàu trong hải cảng, cờ quốc gia treo sau lái. Ngắm xem cờ sau lái là cờ nước nào?”

– “Tôi dốt về cờ các xứ lắm!”

Hoàng Văn nâng ống dòm:

– “Cờ Trung Hoa Dân Quốc, nói gọn là Đài Loan. Còn chiếc tàu kế treo cờ ra sao?”

Tôi quét ống dòm qua bên tay mặt:

– “Chiếc này, ngoài cờ Việt Nam, nó treo cờ đỏ sẫm.”

– “Đó là cờ hiệu chữ B, đọc Bravo, cùng cỡ với cờ chữ Golf, nhưng cạnh ngoài bị gãy vào trong. Nó mang ý nghĩa là tàu đang chở hàng nguy hiểm, như đạn dược, xăng dầu. Khi thấy cờ này, không nên đến gần. Tiếp tục với các chiếc còn lại.”

– “Hai chiếc kế tiếp đều treo hiệu kỳ Thuyền Trưởng cạnh cờ vàng ba sọc đỏ. Chiếc gần chiến hạm nhất, thay chỗ hiệu kỳ Thuyền Trưởng là lá cờ vuông, mỗi cạnh kết hợp với hai đường chéo thành bốn tam giác có đỉnh chụm vào nhau. Mỗi tam giác một màu: đen, vàng, xanh, đỏ.”

Thấy Hoàng Văn im lặng hơi lâu, tôi nhắc:

– “Cờ tứ sắc đó có nghĩa là gì?”

– “Nhìn từ mọi góc cạnh, không một lý do hợp lý nào cho thấy cô cần biết ý nghĩa những hiệu kỳ rắc rối này.”

– “Tôi thấy nó hay hay.” Tôi chống chế:

– “Chắc tại vì… Hạm Phó?” Hoàng Văn soi mói nhìn.

– “Hạm Phó thì có dính dáng gì đến cờ xí!” Tôi bực bội.

– “Nếu quả thật cô thấy hay hay thì tôi tiếp tục! Lá cờ gồm bốn tam giác bốn màu chụm đầu là cờ chữ Z, đọc Zulu, mang ý nghĩa là ‘cần tàu kéo’. Tức là chiếc thương thuyền này vận chuyển khó khăn, cần một tàu kéo giúp sức.”

– “Trời ơi! Cờ quạt gì mà ý nghĩa tùm lum quá, làm sao nhớ hết!”

Hoàng Văn nhìn tôi cười tủm tỉm:

– “Chúng tôi có cách để nhớ. Thí dụ như với cờ màu đỏ Bravo. Chắc cô còn nhớ ý nghĩa của nó phải không?”

Tôi muốn khoe mình cũng là tay nhớ dai, đáp nhanh:

– “Nhớ chứ! Ý nghĩa là tàu chở hàng hóa nguy hiểm, chớ lại gần.”

– “Cách tôi nhớ ý nghĩa cờ Bravo là liên tưởng đến các cô… treo cờ đỏ!”

– “Cái anh này!” Mặt tôi nóng bừng.

– “Có một cờ hiệu mà tôi nghĩ là cô nhớ dễ dàng. Đó là cờ chữ O, đọc Oscar, mang ý nghĩa “có người rơi xuống biển.” Người ta chọn mẫu tự O là từ chữ Overboard. Cờ này có màu nửa vàng nửa đỏ theo đường chéo xuôi.”

Nhớ lời dặn buổi sáng sàn tàu trơn trợt, tôi tò mò:

– “Ví dụ tôi bị rơi thật thì làm sao các anh biết?”

– “Làm sao biết? Cũng dễ, chỉ sớm hay muộn thôi! Sớm thì như cô thấy, chúng tôi luôn luôn có nhiều người quan sát trên đài chỉ huy và người đi tuần phòng quanh chiến hạm. Trễ thì khi không thấy cô ở bữa ăn, không thấy cô trong phòng ngủ và khi cho gọi máy, cho người đi tìm cũng không thấy.” Hoàng Văn hạ giọng như sợ có ai nghe. “Mà cô việc gì phải lo. Trường hợp cô bị rơi thật, bất cứ giá nào Hạm Phó cũng đích thân tìm cứu cô cho bằng được.”

Tôi nghiêm giọng:

– “Sao ai trên tàu cũng gán tôi với Hạm Phó. Chúng tôi chỉ mới biết nhau, cũng như tôi quen anh”.

Hoàng Văn cười, ánh mắt tinh quái:

– “Vậy thì tôi rất vui để tiếp tục. Chuyện ‘người rơi xuống biển’ là chuyện sinh mạng con người, không chỉ trách nhiệm riêng nội bộ chiến hạm mà còn là một nghĩa vụ quốc tế. Tàu có nạn nhân buộc phải thông báo cho quốc gia lân cận để họ điều động phi cơ, tàu bè đến tiếp cứu.”

– “Rắc rối thật!”

– “Không chỉ rắc rối mà còn… tức cười nữa! Thí dụ có một thương thuyền nào đó treo lá cờ chữ W, đọc là Whiskey. Nghe chữ whiskey hẳn cô nghĩ ngay đến rượu nhưng cờ Whiskey không có nghĩa là họ cần tiếp tế rượu mà lại có nghĩa là ‘Cần thuốc men, y tế’. Lại thí dụ có một tàu khác treo cờ chữ T đọc là Tango. Treo cờ này, không có nghĩa tàu đó đang mở dạ vũ Tango, mà là muốn cảnh báo ‘Tôi đang cào cá, xin đừng qua mặt’.”

– “Hay ho thật đấy! Nhưng… sao phải treo cờ làm gì cho rắc rối. Cứ nói chuyện trực tiếp có phải nhanh chóng, tiện lợi hơn không?”

– “Cho dù các nước đồng ý thống nhất dùng tiếng Anh làm tiếng quốc tế thì vẫn không như cô tưởng. Mỗi người một cách phát âm, lại qua máy truyền tin thì khó nghe cho rõ. Cứ phải hỏi tới hỏi lui có khi… quá muộn! Cho nên, dùng cờ hiệu là ăn chắc. Trông thấy cờ là biết đối phương muốn nói gì.”

– “Nhưng hiểu ý nghĩa trọn 26 cờ mẫu tự thì chắc … khùng luôn!”

– “Nếu chỉ có 26 cờ mẫu tự thì dễ như… ăn cơm. Chúng tôi còn phải học ý nghĩa của sự kết hợp hai, hoặc ba, hoặc bốn mẫu tự với nhau. Thí dụ như kết hợp chữ N và chữ C – N treo trên C – để báo rằng ‘tàu tôi đang lâm nạn, xin tiếp cứu’. Lại có cờ mang ý nghĩa qua sự kết hợp các màu. Có cờ toàn màu trắng, có cờ nửa đỏ nửa trắng. Có cờ toàn màu vàng, có cờ nửa vàng nửa đen. Có cờ gồm ba màu như cờ Pháp. Có cờ ba màu theo thứ tự ngược cờ Pháp. Có cờ có tới bốn màu. Rồi mỗi màu lại có dạng hình tròn, hình vuông, tam giác, lằn ngang, lằn dọc, gạch chéo…”

– “Trời! Làm sao các anh nhớ hết!”

– “Không nhớ thì không là… Hải Quân!”

Thấy tôi lè lưỡi, Hoàng Văn cười to:

– “Đó chỉ mới một nửa rắc rối thôi cô Phượng ạ! Bởi vì hiển nhiên cờ xí thì chỉ dùng ban ngày, khi trời quang mây tạnh, đến đêm hay gặp thời tiết xấu, coi như vô ích! Lúc đó, phải dùng đèn hiệu và còi hiệu. Ý nghĩa muốn truyền đạt là sự kết hợp của ánh đèn chớp tắt, hoặc của tiếng còi ngắn dài. Như trường hợp có người té xuống biển ban đêm: tàu phải phát thường xuyên những tiếng còi S.O.S và trên cột đèn phải bật một đèn xanh giữa hai đèn đỏ cách nhau một mét.”

– “Ôi trời! Có cho vàng tôi cũng không đi Hải Quân!” Tôi ta thán.

Hoàng Văn tươi cười:

– “Tôi hù cô Phượng cho vui thôi chớ đến Thánh cũng không nhớ hết! Yêu nghề lắm thì cũng chỉ nhớ những lá cờ mang ý nghĩa thường gặp. Còn thì tàu nào cũng có quyển ‘hải thư’ the International Code of Signals. Chỉ cần nhớ mục lục tổng quát để tìm ý nghĩa cho lẹ.”

Hoàng Văn bước đến bàn hải đồ, kéo hộc tủ lấy ra một quyển sách tương đối mỏng. Anh lật nhanh cho tôi xem trang nào trang nấy toàn cờ là cờ, màu là màu. Tôi nói:

– “Có một lần tôi đi dạo bến Bạch Đằng vào dịp lễ húy nhật Thánh Tổ Hưng Đạo Đại Vương, tôi thấy cờ đủ kiểu đủ màu treo rợp trời. Ý nghĩa ra sao?”

– “Chỉ nêu ý nghĩa đây là lễ của Hải Quân, cũng như thêm phần long trọng, đẹp mắt!”

Không biết hỏi gì hơn, tôi tò mò lấy ống dòm ngắm các lá cờ treo trên mỗi con tàu trong vịnh. Chỉ ba chiếc là treo cờ ‘cần hoa tiêu’. Đặc biệt tất cả đều treo cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Anh Hoàng Văn, không thấy có tàu Mỹ ở đây. Chỉ thấy toàn là tàu Việt Nam. Tôi nghe nói Mỹ đã mua đứt Cam Ranh rồi mà!”

– “Hơi đâu mà nghe Cộng Sản tuyên truyền! Cô hiện ở ngay trong vịnh, hãy tự quan sát. Cô thấy có gì chứng tỏ Cam Ranh thuộc về Mỹ?”

– “Tôi không thấy dấu vết chủ quyền của Mỹ.”

– “Còn dựa vào đâu cô bảo đều là tàu Việt Nam?”

– “Tàu nào cũng treo cờ Việt Nam Cộng Hòa.”

– “Tàu treo cờ Việt Nam Cộng Hòa không hẳn là tàu của Việt Nam Cộng Hòa. Luật Hàng Hải quy định rằng tàu ngoại quốc nào hoạt động trong các hải cảng Việt Nam Cộng Hòa đều phải treo cờ Việt Nam Cộng Hòa và phải có hoa tiêu Việt Nam hướng dẫn vào cảng. Hầu hết thương thuyền đều có hai cột cờ. Cột cờ thấp ở lái, cột cờ cao ở giữa. Khi tàu ngoại quốc vào hải cảng, quốc kỳ của tàu đó phải hạ xuống treo ở cột lái, còn quốc kỳ của nước sở tại được kéo lên ở cột cờ giữa. Đó là lý do cô thấy tất cả các thương thuyền đều treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó chứng minh Cam Ranh vẫn là Cam Ranh của Việt Nam. Ngay với chiến hạm này, nếu Cam Ranh thuộc chủ quyền của Mỹ, chúng ta phải neo ở ngoài chờ hoa tiêu dẫn vào. Cờ Việt Nam phải treo sau lái và cờ Hoa Kỳ phải treo giữa. Nhưng thực tế cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn treo cao và chiến hạm nghênh ngang ra vào, đâu cần hoa tiêu.”

Tôi đặt ống dòm nhìn vào các cột cờ sau lái của các tàu hiện diện trong vịnh. Đa số là cờ sao sọc. Có một chiếc cờ Nhật. Một số khác, không rõ cờ nước nào. Đúng là tất cả đều treo cờ vàng ba sọc đỏ ở vị trí cao nhất. Tôi hết nhìn Thiếu úy Hoàng Văn, lại nhìn các thủy thủ đương phiên. Nhìn rộng hơn, rõ ràng người đang chỉ huy chiến hạm này là một Thiếu tá người Việt, thủy thủ đoàn đều là người Việt. Một thực tế hiển nhiên. Cũng hiển nhiên như suốt thời gian xuống tàu đến giờ, tôi chưa từng nghe một mệnh lệnh nào của tên Mỹ, chỉ nghe hắn ‘aye aye, sir.’

Nhưng… biết đâu chừng thấy vậy mà không phải vậy! Tôi vẫn còn ít nhất 24 tiếng nữa để quan sát và xem xét tận tường. Chế tạo được một quả bom không phải là chuyện dễ dàng. Mang được quả bom xuống tàu lại là cả một gian nan. Hưng có thể chủ trương ‘Thà giết lầm còn hơn bỏ sót!’. Tôi chỉ muốn giết đúng người đáng chết.

Đầu dê; thịt chó?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

April 20th, 2024

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín nguyên là giảng viên bộ môn Ngữ văn ở Đại học Cần Thơ, hiệu trưởng Đại học Võ Trường Toản, phóng viên Báo Nông nghiệp Việt Nam. Đó là học vị, học hàm, học tùm lum. Đó là chức danh nghề nghiệp: giảng viên, hiệu trưởng, chức tùm lum.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín là phóng viên Báo Nông Nghiệp Việt Nam, nói nôm na, ông còn là nhà báo. Nhà báo thì ông báo cái giống gì hè? Thì trong cuốn Từ Điển Từ Ngữ Nam Bộ được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2007, ông giải nghĩa cho dân ngu dốt như tui tức cười (cười vì tức) thiếu điều muốn té ghế, như thế nầy nè: Trang 894, ‘nhà báo’ danh từ, nghĩa bóng, là những người không có công ăn việc làm, thất nghiệp, đang ăn bám vào gia đình. Ông bèn đưa ra một câu thí dụ: “Ra trường rồi ở nhà làm nhà báo chớ có làm được gì đâu”.

Theo thiển ý của tui: Đó là một cách cắt nghĩa bá láp. Nếu cho rằng đùa thì ông nên đem vào từ điển về tiếng lóng (slang). Chớ lượm được bất cứ cái gì trôi nổi ngoài chợ trời, ngoài chợ đời cũng đem nhét vô cuốn từ điển của mình thì đâu có được nè.

Theo tui, khi đã dám học gồng soạn từ điển thì phải chấp nhận sự phê bình của thiên hạ. Phê trật thì mình viết bài tranh luận cho nó rõ ngô khoai. Phê trúng thì mình cám ơn; mình học để lần tái bản mình sửa lại tác phẩm của mình càng lúc càng ít lỗi hơn.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín và Tự điển

Năn nỉ đừng ‘chơi’ tao, sau khi khiêm tốn, nổ ầm ầm như đẻ ở Trảng Bom? Tui e ‘Ba Ke hai nút’ nó đâu có nín khi thấy ông tiến sĩ giành cái thành ngữ có cầu chứng tại tòa là: “Chúng mầy có biết ông là ai không”? Vậy là đồng chí của tao mà nó chơi tui đem ông Tiến sĩ nhà ta ra dợt cho lên bờ xuống ruộng.

Thấy chúng bề hội đồng ông vui quá xá nên tui cũng nhào vô ké vài ba cái đạp.

Tui thấy trang 433, từ mục ‘dân biểu’, danh từ, người được bầu vào cơ quan dân cử (Quốc hội) thời thực dân Pháp hoặc chánh quyền Sài Gòn trước 1975. “Ngày trước ông có ra ứng cử dân biểu Hạ viện hay Thượng viện gì đó; nhưng mà rớt”.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín không đề trích của ai nên tui cho rằng do chính ổng viết. Hồi thời thực dân Pháp làm gì có Dân biểu? Chỉ có Nghị viên (nghị Hách trong tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng). Làm gì có chánh quyền Sài Gòn? Chỉ có chánh quyền VNCH. Thượng viện thì gọi là Thượng nghị sĩ, ra ứng cử theo liên danh 10 người, chớ Dân biểu bao giờ?

Rồi ở trang 558, ông Tiến sĩ ghi là từ mượn ‘Giấy bu lia’? Lạ quá, tui mới đọc lần đầu. Chớ xưa giờ, tui gặp chữ ‘pơ luya’ gốc tiếng Pháp là ‘pelure’ không hè.

Nói nào ngay, khi sức chưa tới mà dám xăm mình soạn cuốn từ điển này, biết trước sau gì cũng bị búa rìu dư luận nên Tiến sĩ Huỳnh Công Tín xuống nước nhỏ trước: “Tôi ra đời và lớn lên ở Nam Bộ, vốn nặng tình với vùng đất sinh ra ông bà, cha mẹ mình và tiếng nói của người dân quê hương, nên đã làm điều có phần quá khả năng. Xin bạn đọc lượng tình xem đây như một việc thể hiện tấm lòng đối với bà con ruộng vườn sông nước.”

Rồi trang kế, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín cho in liền lời giới thiệu của nhà văn Sơn Nam để dựa hơi. Tui thấy từ điển là cuốn sách để tham khảo thì dùng chữ nhà biên khảo nó chánh xác hơn là nhà văn Sơn Nam. Và tui cũng nghĩ đây không phải là lời giới thiệu. Giới thiệu sách là phải nói về cuốn sách đó phải không nào? Đây chỉ là vài suy nghĩ vụn vặt nhà biên khảo Sơn Nam nói về cách soạn một cuốn từ điển mà thôi.

Ông Sơn Nam trích câu hát ru em: “Ru em em théc cho muồi. Để mẹ mua bánh chợ Truồi em ăn.” Ông Sơn Nam kể: Tui nghĩ ‘théc cho muồi’ là ngủ cho say. Nhưng bà ở Huế kế bên nhà giải thích: “Théc là khóc, đứa bé théc là khóc lớn tiếng. Ở Sài Gòn và ở rừng U Minh, đã quen với 2 tiếng ‘khóc théc’.

Dạ tui tự hỏi: “Théc hay thét?” “Thét là: quát, mắng, kêu to, v.v. khi tức tối, căm giận ai’. Thí dụ: sợ quá khóc thét lên; tiếng thét căm hờn. Thú thiệt nhỏ lớn tui chưa thấy ai viết ‘théc lớn’ bao giờ?

Tranh Bảo Huân

Rồi ông Sơn Nam viết: “Lại còn nhiều chữ mà ở trong Nam Bộ rõ ràng là nói sai, viết sai thí dụ như ở trong bài ‘Dạ cổ hoài lang’ của ông Sáu Lầu, Cao Văn Lầu hát bài nghĩa ‘tàu khang’ nhưng trên sách vở thì ghi là ‘tao khang’  (tao khang chi thê bất khả lạc đàng). Nhưng tui lại thấy có tài liệu nói là: “Tao khang chi thê bất khả hạ đường’’. Không có chữ ‘lạc đàng’.

Rồi ca dao cũng có câu: “Ai xui rã chút duyên kim cải. Ai khiến rời chút ngãi tào khang…” Hoặc “Một lời đã hứa tào khang/Trăm năm ghi tạc nghĩa chàng, chàng ơi!” Nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu: “Tin nhà ngày một vắng tin/Mặn tình cát lũy, lạt tình tao khang”.

Tao khang là từ thành ngữ ‘tao khang chi thê’, chỉ người vợ từng chung cảnh nghèo khổ, hai vợ chồng cùng ăn cám bã thuở hàn vi. Tui thấy viết ‘tàu khang’, ‘tào khang’, ‘tao khang’ cũng được tuốt, chả có gì sai. (tùy cách phiên âm qua tiếng Việt).

Cuối bài báo, ông Sơn Nam còn ‘đá khéo’ thằng nhỏ điếc không sợ súng là: “Chữ nghĩa quả thật là gánh nặng dành cho thế hệ trẻ”

Câu nầy thì tui đồng ý với ông Sơn Nam. Muốn soạn một từ điển là phải có hàng trăm chuyên gia về đủ mọi lãnh vực của học thuật. Sức của Tiến sĩ Huỳnh Công Tín vác không nổi ‘Phương ngữ Nam Bộ’ đâu!

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín sao nỡ lòng nào đi dụ khị bà con mình (trong đó có cả tui vì trót say mê cái tiếng, cái chữ quê mình nên bỏ ra tới 50 đô Úc mua sách của ông). Mất tiền cũng chưa tức bằng cảm giác mình bị ổng xí gạt bằng cái tựa ‘Từ điển Từ ngữ Nam Bộ’ Đúng là treo đầu dê bán thịt chó đó bà con ơi!

ĐXT

Dây thun lỏng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Bắt đầu là tiếng “Huế mềnh” đặc sệt của một gã lưu vong đã ở xứ lạ quá nửa đời người- gợi nhớ một lần nghe ông Cao Xuân Hạo giải thích về khuynh hướng “càng ly tâm càng hướng tâm” khi tôi thắc mắc vì răng người Nam bộ vốn nổi tiếng ăn nói mộc mạc, giản dị mà trong ca dao tục ngữ lại giữ một lượng lớn thành ngữ Hán Việt cổ điển- rồi đến giọng “u-mua” lẫn tí mùi tán gái cợt nhã, bụi bờ, mà pha được điệu ngậm ngùi thế sự mới tài! Tôi cho nó phải là một trong những đặc trưng lối văn Hồ Đình Nghiêm.

“Khúc đưới” (phần dưới) của o Ngà được chính đương sự nhận là xấu- tiếc là người kể không nói rõ thêm “đưới” nớ ra răng mà chịu xấu rứa!- nhưng khúc đưới (kết) của truyện ngắn thì “couldn’t be better”.

Cảm ơn Nghiêm: Cái đau của đời có khi hơn… hoạn thiệt, nhưng cái đau văn chương đem lại đâu chỉ thuần thương đau.

Nguyễn Thanh Văn
Sài Gòn

Long người Nam, từ Sài-gòn ra trọ học, ở gần nhà và học cùng lớp nên chúng tôi làm bạn với nhau. Lối ăn mặc, cách tiêu pha có vẻ như con nhà khá giả. Hắn lỡ phạm một lỗi lầm nào đó, nên ra Huế, với hắn là bản án lưu đày mà gia đình đã tuyên xử, nỡ xuống tay. Thức ăn cay, mưa gió rả rích, phố xá nhỏ chật… hắn có thể tìm ra cả vạn lý do để minh định lập trường: Không cảm tình với Huế.
Một bữa, Long ghé nhà, hậm hực. Hình như đương sự có chửi thề. Tôi đang nằm đọc cuốn “Uyên ương gãy cánh” và những hình ảnh thơ mộng trong cuốn sách đã bị tước đoạt trong nháy mắt. Tôi hỏi, để được biết là hắn đi may một cái quần tây khá đắt tiền nhưng khi mang về thì phát hiện rất nhiều lầm lỗi. Thất bại! Hắn nói. Đó là chữ hắn thường dùng để chấm câu. Uống một cốc cà phê hơi nhạt. Thất bại! Mua một quả cam chua. Thất bại! Tất cả đều thất bại. Tựu thành một việc hằng mong mỏi, chưa bao giờ nghe hắn nói: Thành công.
Tôi trấn an, chuyện gì cũng còn có đó, ông may quần ở đâu?
Hắn có chiếc xe gắn máy, Honda 65 phân khối chở từ “trỏng” ra, gắn bảng số quận 3 Sài-gòn. Hắn từng giựt le với đám bạn học về cái sự bốc của chiếc xe và cả đám đều xuýt xoa, y như rằng cái con “hắc mã” đó là độc nhất vô nhị ở cái xứ hiếm của lạ luôn trầm mặc này. Chạy mau lắm thê, không phải nói trạng mô nợ. Một vài đứa trong lớp gốc gác ngoại thành phát biểu cảm tưởng. Tôi leo lên yên sau, ôm bọc giấy gói kín chiếc quần không như ý để hắn bốc tới nơi gây phiền hà. Tiệm nằm ngoài phố, bảng hiệu có người ra công vẽ sơn hình tháp Eiffel đồ sộ như thể cầu chứng, mang tay nghề về từ kinh đô ánh sáng.

Tiệm vắng, đứng bên chiếc bàn dài là người đàn ông tóc tém lui sau, chải mượt bóng dầu mỡ thấy rõ sự chuyên cần mà răng lược đã cày qua. Áo bỏ vào quần tươm tất, điệu đàng, đỏm dáng. Tiếc một điều chân mang dép cao su mòn vẹt và ông xứng đáng để đại diện cho những người thiếu thước tấc. Ông cao ngang vai tôi, cổ ông có sợi thước dây vắt tròng, vật trang sức như ta thường thấy nơi mấy vị chuyên nghề đo đạc.
Ông tính nói điều gì đó nhưng thoáng cau mày khi nhìn ra thằng bạn tôi. Hẳn ông đã đánh hơi ra chuyện thất thường. Hai đứa ni tới để kiện tụng chớ không phải mua sắm may mặc. Chúng tôi đã lựa thời điểm là sau buổi trưa, tránh giờ mở hàng “mất mì xưa” của chủ tiệm, mình chưa nói năng họ đã càm ràm nghe cũng ngán.
Rồi cái quần được trải thẳng trên mặt bàn dài. Tôi như đứa thông ngôn vì có khi mặt bạn tôi nghệch ra, ú ớ không hiểu lời phân trần. Tui đồng ý là khúc trữa có hơi bị nhăn nhíu, nhưng khúc đưới và khúc côi ni, anh xem đi, phải nói là khéo tay. Hàng vải ni rất khó may, anh thông cảm để tui chỉnh sửa lại. Côi, trữa, đưới. Thất bại, phải không? Tuy thương hiệu có vẽ cái tháp biểu tượng của Paris, nhưng ổng hổng nói tiếng Tây tiếng u đâu. Đậm đà bản sắc địa phương đó nợ, chớ mô lai tạp đầu Ngô mình Sở: Chín giờ kèn thổi “cu-sê”, thôi em ở lại anh về “áp-bên”. Coucher là ngủ ngáy mà appel là điểm danh, nôm na là tục tác gọi gà về chuồng, trời túi hung rồi.
75 là cú thổi “áp-bên” đầy xao xác khiến giấc “cu-sê” mãi không tròn giấc, hoặc có người làm cú “cu-sê” dài dằng dặc, dài miên man. Tất cả ngác ngơ lạc hồn như gà con mất mẹ.
Bữa nọ tôi ngác ngơ đi vào chợ trời để bán bộ áo quần còn lành lặn thì có người con gái gọi đúng tên tôi. Chiếc nón lá, quai lụa tím, tóc ngang vai. Tôi ngó và tôi tưởng tai mình nghe lầm. Tôi chẳng thể nhìn ra chút gì quen thuộc nơi khuôn mặt lạ lẫm kia. Anh Long bữa ni trốn ở chỗ mô hả anh? Long hả, thì nó vào lại Sài-gòn từ khuya, từ độ xấc bấc xang bang ai cũng giỏi chân tháo chạy. Có còn mô đây mà hỏi. Cô là chi của hắn? Chuyện dài lắm, lôi thôi lắm, làm răng nói năng? Chứ anh đi mô đây? Ôm kè kè cái bọc chi rứa?
Cô tên Ngà, đang hành nghề mánh mung. Cô thật thà khai báo. Cứ đi lòng vòng, gặp con nai vàng cỡ như tôi thì nhảy ra chận đầu, mua đi bán lại thứ “chà đồ nhôm” chôm đồ nhà. Thượng vàng hạ cám đều có thể tiêu thụ giữa thời buổi lắm phong ba mãi làm sấp ngửa.
Anh kẹt tiền hung? Ngà hỏi. Ai mà không kẹt. Tôi trả lời. Cần tiền để trang trải chuyện chi? Ậy, cà phê thuốc lá cũng xúi mình tằn tiện việc ăn việc mặc vậy. Cứ nhất y độc quỡn cho giống với người ta. Lạnh thân chứ không thể buồn miệng.
Nhờ Ngà, bộ áo quần lành lặn của tôi bay biến rất mau. Ngà đưa tôi nạm tiền rít rát như biết ứa mồ hôi, chất giấy xấu như thứ dành để cúng cô hồn. Em không lấy tiền công, anh có thể bao em một chầu cà phê cà pháo không?
Tôi chở Ngà ra tới đầu đường, chun vô ngồi dưới một mái tồn che nắng của cái quán nước tả tơi ghế bàn. Nền đất nện không phẳng, ly tách không đồng dạng, cà phê bít tất nằm trong cái ấm đen thui bắt trên kiềng ba chân có ngọn lửa mãi táp. Mấy thanh củi ẩm làm cay mắt. Hai đứa ngồi xuống ghế nhựa, phải xê dịch đôi chút mới tìm được sự quân bình. Một cà phê đá một chè đậu đỏ. Thằng nhỏ ở trần nói vọng lui sau, nơi có sợi dây thép chùng mãi rung động ba cái khăn nhàu rách đang phơi. Ngà ngồi gần, tôi ngó vô áo bà ba và thấy một đường khe rám nắng. Hình như vì trời oi bức, chẳng thấy bóng dáng chiếc xu-chiêng. Vóc vạc, mặt mày, tay chân, hình thể, tôi đoán tuổi Ngà khoảng hai chục, hoặc nhỏ hơn.
Em luôn loanh quanh khu chợ trời này, lần sau kẹt tiền nhớ chạy vô hú em một tiếng. Ngà nói khi nhìn chiếc xe đạp tôi dựng bên một gốc cây. Cây thưa lá nên nắng chang chang trên vuông đất khô. Tôi cũng thấy mình kiệt cạn dần, rụng từng ngày nghèo đủ thứ, nghèo tới độ có muốn đăng ký làm dân vô sản cũng bị họ chê bai, không đủ tư cách. Một ngày chẳng xa, tôi sẽ bán chiếc xe đạp ấy, tài sản giá trị cuối cùng để thoi thóp đón đợi tin vui. Người tôi yêu đã vượt biên, chả thèm ư hử. Tuy đau lòng nhưng tôi mãi mong cho người đến được bến bờ trong an lành. Cả tháng dài lâu chưa nghe vọng động. Ở ngoài chợ có bà bán cá thấy trong ruột nó lấp lánh chiếc nhẫn đính hột kim cương. Nghe lạ không? Chẳng lạ, nhưng nên tránh ăn cá biển. Ăn cá sông hồ và con nào càng nhỏ càng tốt. Hừ, tiền đâu mà mua cá to?
Cà phê cạn dần, hột đậu đỏ cuối cũng đã mắc vào kẽ răng Ngà, chuyện vãn nhạt thua cả nước đá; cuối cùng tôi bới móc về dấu hỏi vĩ đại: Vì răng em quen Long để rồi biết tới tên anh? Ngà đổi thế ngồi, tay cầm nón quạt lia quạt lịa, tóc Ngà phất phơ mà mặt tôi cũng đón được chút gió thơm mùi mồ hôi dầu của đương sự. Chừng mỏi tay, Ngà đưa mấy ngón mân mê sờ soạn chiếc quai lụa, mặt cúi xuống. Anh còn nhớ cái bữa mà hai người chạy tới tiệm may để ca cẩm kiện tụng chiếc quần tây không? Có thể là anh không biết chuyện ni, sau bữa nọ, chẳng biết răng mà anh Long siêng trở lui để may áo quần. Em ở dưới quê lên học nghề, hay đúng ra là lo cơm nước cho chú Quý, chủ tiệm. Ngồi khuất sau màn chờ nghe sai việc, nay đơm bộ khuy, mốt thì chạy u đi vắt sổ, giặt khúc vải, ủi cái áo… Chú Quý nói, tao chịu đèn cái thằng Sè-gòn đó rồi. Hắn nhiều tiền, không ưa mặc cả, dễ tính, là hạng người mà mình có chặt đẹp hắn cũng mần thinh. Hắn ưa ngủ đò cho biết sự tình mà tao can ngăn, vui thú chi nơi mà ham, chưa kể dây dưa tới bịnh tình. Chú đưa em tám ngàn, nói mi ngủ với hắn chút xíu có chết đi mô mà sợ. Em nhắm mắt đánh liều cho anh Long ưa làm chi đó thì mặc sức làm. Em thì ốt dột mà anh Long thì gà mờ, loay hoay chi chút mà cũng bở hơi tai. Anh nói: Thất bại! Lần khác anh lợi sẽ uýnh một trận ngó đường hoàng hơn. Giờ thì anh phải dìa.
Tôi có kinh nghiệm đau thương, là khi mà bạn đã lỡ bán đi một thứ gì đó, thì việc làm kia nó tạo trớn để bạn thấy dễ dãi tiếp tục lần hai, lần ba, lần bốn. Cũng có thể mang thành ngữ ra để giải thích, tựa như: Ngựa quen đường cũ, ăn quen bén mùi.
Chừng một tháng, sau khi gặp Ngà, tôi lại đạp xe vào “thị tại môn tiền náo”. Chỉ một tháng mà lắm đổi thay, chợ nhộn nhịp, người mua kẻ bán đông chật hơn, phạm vi được nới rộng ra. Duy có thứ vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn một mực giữ nguyên, đó là thần sắc người ngợm vô ra thảy đều lạc hồn xanh mướt chân đi xiêu lạc áo quần tả tơi. Sáng ra đứng phố ngồi hè, phồn hoa đô hội đâu dè thế ru.*
Ngà rất mừng khi ngó thấy tôi, cái tở mở thành thực nằm đọng trong đôi mắt long lanh. Ngà đủ thông minh để hiểu thấu cớ sao tôi dẫn xác vào chốn này. Ngà phủ bàn tay lên những ngón tôi bấu vào gi-đông xe. Anh tìm em phải không? Chơ cớ làm răng mà mặt anh xanh ngắt ra rứa? Tôi thiếu chất dinh dưỡng, bên bệnh viện họ phán thế. Cậu thiếu vitamin, thiếu đủ thứ, A, B, C, D, E. Đừng có đi bán máu nữa nhé. Tôi viết cho cậu tờ giấy chứng nhận để khỏi phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vào chủ nhật tới. Nên bồi dưỡng, nên tranh thủ ăn nhiều chất đạm vào. Nhớ chưa?
Tôi không nhớ gì cả. Tôi chỉ nhớ Ngà. Tôi thiếu vitamin N. Khủng hoảng thiếu. Trầm trọng vắng. Tôi hỏi Ngà ở đâu? Ngà nói ở chung với đứa bạn buôn bán ve chai và đồ đồng nát, gần chỗ ni, có điều tồi tàn lắm, cốt để tránh gió mưa. Chỉ chỗ đi, anh chở em về. Anh đang nói chơi à? Nói chơi làm chi cho tốn hơi. Anh nói thiệt, anh bán chiếc xe đạp ni cho Ngà, mua không? Ôn mệ ơi, tiền bạc mô đủ mà mua anh. Đời em như tấm mền rách thì anh cũng đã chộ rồi. Bậy nà, anh chưa hề thấy qua. Nói thiệt nghe, khúc đưới của em có hơi xấu, ở côi thì ngó tàm tạm, còn khúc trữa? Chắc Ngà phải cho anh thấy mới nói năng linh tinh như ông Quý tiệm may.
Ngà cười một tràng trong vắt. Nếu tôi là bạo chúa sẽ bắt Ngà về cười suốt, thay vì nghe tiếng xé lụa hoặc tiếng lửa reo bên doanh trại đối phương. Một tiếng cười hưng phấn. Ngà nhảy phóc lên yên sau, mang nguyên cả cánh tay ra ôm choàng lấy tấm thân gầy xé gió của tôi. Tôi cảm nhận được cái mềm mại của trái vú sữa nằm gần khúc côi của Ngà. Thứ trái cây rám nắng tự nẩy nở lấy mà chẳng nhiêu khê chín giú trong xú-chiêng.
Cửa đóng then cài không lâu, tôi và Ngà lần lượt mở khóa cho nhau. Ngà mặc quần vải mỏng có tròng giây thun ở lưng, thắt thỏm. Đói ăn bụng lép rồi giây thun đang tới hồi lỏng, mất tính đàn hồi co giãn nên chi thoắt một cái là khúc trữa lộ hình. Nó sẽ tiết ra một giòng sữa mật mà riêng viện bào chế chẳng chịu gọi là vitamin. Nó sẽ bồi dưỡng cho tôi thứ mà văn học gọi trái cấm ở thiên đường nhiều cám dỗ.
Tôi ôm giữ lấy khuôn mặt Ngà. Tôi hôn vào môi khô đang bấn loạn thở. Tôi đồng ý với anh là khúc đưới hơi thô thiển, nhưng phần côi và khúc trữa xoắn tít những cụm chỉ rối vụng về tay gỡ, thì phải mạnh dạn để nói, đó là tặng vật của đời.
Tôi vật Ngà xuống tấm chiếu có vẽ hình long phụng đưa móng bám giữ chữ Phúc. Hôm qua, tôi nghe hung tin, người yêu tôi (người tôi yêu) đã bị rơi vào tay bọn hải tặc Thái. Tôi đã chết, hôm qua. Và hôm nay, hồn ma tôi chợt hiện. Nó yêu Ngà để nước mắt quỷ sứ tự dưng chảy hoen ra chiếu lạnh.
Tiếng rao “Có ai bán nồi niêu chén bát sứt cọng gãy càng không” chẳng làm cho hai con thú tật nguyền phân tâm. Chúng mãi chia ngọt sẻ bùi dưới căn hộ hoang sơ tựa một cổ mộ mà thời buổi đương đại này chưa đủ chất xám để định hình, giải mã, rêu rao.

HĐN

Ký sử 1975 – Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng

baotreonline.com

Trần Vũ

September 23rd, 2026

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Tuyên truyền của phía chiến thắng tràn ngập youtube với vô vàn các video ngụy tạo nhằm bôi nhọ Quân đội Quốc gia. Phát thanh cũng qua Youtube, trang Ký Sử 1975 cho cách nhìn trung tính hơn về nội chiến. Người xưa không lấy thành bại để luận anh hùng nhưng trọng lòng quả cảm lúc sống và lúc chết. Tiêu chuẩn đó vẫn đúng cho các quả phụ của những sĩ quan đã tuẫn tiết, vì bằng nghị lực phi thường, họ đã giữ tiết tháo của chồng mình không hoen ố. Câu chuyện đời bà quả phụ Phan Thị Minh Yến, tự thân là một tấm gương.

Chép lại từ bản thu âm phát thanh trên youtube dưới tựa “Chồng Tuẫn Tiết ở Lai Khê, Vợ Ôm 4 Con Sang Mỹ và Từ Chối Mọi Vinh Danh”, tôi chọn thay tựa, vì quá dài, bằng tựa “Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng”. Vì gia đình cô Phan Thị Minh Yến khi di cư từ Hải Phòng mang theo chiếc rương gỗ chứa những gì quý giá nhất và gìn giữ cho đến cuối tháng 4-75. Nếu Phan Thị Minh Yến buộc phải rời Sàigòn không thể mang theo vì quá nặng, chiếc rương đó hiện diện trong suốt đời bà. Nếu bà đành bỏ lại hòm gỗ, bà đã mang theo được những gì trân quý cất giữ bên trong.

Trang Ký Sử 1975 ẩn danh, không nêu tên người viết thoại và đọc, nhưng là một văn bản thu thanh hoàn chỉnh.

[Trần Vũ]

Suốt 30 năm, một người thợ cắt tóc ở Virginia không hề nói mình là ai. Khách quen chỉ gọi bà là cô Yến. Họ biết bà cắt tóc khéo, gội đầu nhẹ tay và rất ít nói. Họ không biết chồng bà từng là một vị tướng. Họ càng không biết ông đã chết như thế nào. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong 5 vị tướng miền Nam đã tự sát trong ngày 30 tháng 04 năm 1975. Người phụ nữ đứng sau chiếc ghế cắt tóc kia năm ấy chưa tròn 30 tuổi. Bà rời Sài Gòn cùng 4 đứa con nhỏ. Đứa lớn nhất 10 tuổi, đứa út mới lên 6. Bà đi mà không biết đó là lần cuối cùng còn nhìn thấy chồng. Bà cũng không biết rằng chỉ ít ngày sau ông sẽ chọn ở lại và chết theo đơn vị của mình. 30 năm sau, bà vẫn đứng nguyên ở chỗ ấy trong một tiệm tóc nhỏ làm công cho người khác. không huân chương, không bục vinh danh, không một dòng tiểu sử nào nhắc đến tên bà. Vậy nên câu hỏi ở đây rất giản dị mà khó trả lời. Một người phụ nữ có đủ tư cách để cả một cộng đồng phải cúi đầu. Vì sao lại im lặng lâu đến thế? Và điều gì đã giữ bà đứng vững suốt ngần ấy năm chỉ với một cây kéo trong tay, một tiệm tóc nhỏ ở Virginia.

Cây kéo trong tay bà gần như chưa từng được nghỉ. Buổi sáng của bà bắt đầu trước khi trời sáng hẳn. Bà đến tiệm sớm bật đèn, lau gương, xếp lại những chiếc lược trên khay. Mùi thuốc uốn tóc lẫn mùi dầu gội bám vào áo bà từ nhiều năm trước và không bao giờ chịu bay đi. Khách đầu tiên thường là những người Mỹ lớn tuổi trong vùng quen mặt đến mức không cần đặt hẹn. Họ ngồi xuống kể chuyện con cái, chuyện thời tiết, chuyện xe hỏng máy. Bà nghe gật đầu, thỉnh thoảng đáp lại bằng thứ tiếng Anh chậm rãi và cẩn thận. Tiếng kéo lách cách đều đặn trên tóc như một nhịp gõ nhỏ giữ cho cả buổi sáng trôi đi. Bà đứng suốt 8 tiếng mỗi ngày, đôi khi lâu hơn. Hai bàn chân sưng lên vào cuối tuần và bà giấu chuyện đó rất giỏi. Người chủ tiệm quý bà vì bà không bao giờ nghỉ đột xuất, không than phiền, không tranh khách với ai. Nhiều lần có người khuyên bà nên mở tiệm riêng vì tay nghề bà đã đủ vững. Bà chỉ cười và lắc đầu.

Bà có lý do của mình. Một lý do mà bà không giải thích với ai trong tiệm.Mở tiệm nghĩa là phải lo thuê mặt bằng, lo giấy tờ, lo thợ, lo khách. Mở tiệm nghĩa là tối về nhà đầu vẫn còn đầy con số. Mà ở nhà thì có 4 đứa trẻ đang lớn từng ngày. Ở một đất nước mà chúng chưa hiểu hết bằng một thứ tiếng mà bà chưa nói sõi. Bà chọn làm thợ làm công ăn lương đúng giờ về. Với người ngoài, đó là một người đàn bà thiếu tham vọng. Với bà, đó là một quyết định đã cân nhắc rất kỹ.

Trong chiếc ví bà mang theo mỗi ngày có một tấm ảnh đen trắng, ảnh góc đã sờn được bọc lại bằng một lớp nhựa mỏng. Không ai trong tiệm từng nhìn thấy nó. Bà không lấy ra khoe, không đặt lên bàn trang điểm như những người thợ khác vẫn làm với ảnh gia đình. Tấm ảnh nằm im trong ngăn khuất nhất sau mấy giấy tờ tùy thân. Trong ảnh là một người đàn ông mặc quân phục, gương mặt gầy, ánh mắt thẳng. Có lần một bà khách quen hỏi bà từ đâu đến. Bà đáp rằng bà đến từ Việt Nam. Bà khách hỏi tiếp, “Thế còn chồng bà?” Bà im lặng một lúc rồi nói rằng, “Ông không sang được”. Câu chuyện dừng ở đó, người khách chuyển sang bàn chuyện màu tóc và bà tiếp tục công việc của mình như chưa có gì xảy ra. Cả tiệm không ai biết rằng câu trả lời ngắn ngủi kia che giấu một điều lớn đến nhường nào. Người ta thường hình dung vợ của một vị tướng bại trận sẽ sống trong hoài niệm kể mãi về những ngày cũ. Bà thì ngược lại bà gần như không kể gì, không phải vì bà quên mà vì bà hiểu rất rõ một điều thực tế. Ở nơi đất khách này, không ai biết hoàn cảnh của bà và điều đó lại tiện cho bà.

Không ai thương hại, không ai tò mò. Bà cứ việc mình làm, căn hộ nhỏ sau giờ đóng cửa. Buổi tối mới là ca làm việc thứ hai trong ngày của bà mà về nhà với mùi thuốc uốn còn vương trên áo, nấu cơm, rửa bát rồi ngồi xuống bên bàn học của các con.

Ba đứa con trai tên Quang, Minh, Chính. Đứa con gái út cả nhà gọi là em Đại, còn ra ngoài lớp học thì mang cái tên mềm hơn nhiều. Tường Vi. Bốn cái tên ấy không phải do bà đặt. Chúng được đặt theo tâm niệm của người cha. Một người lính đã sống trọn đời mình với những chữ đó. Mỗi buổi tối, bà lại nhìn 4 cái tên ấy trên bìa vở của các con. Có những chuyện mà một người mẹ có thể xoay sở được. Chuyện ăn, chuyện mặc, chuyện ốm đau, chuyện tiền học.Nhưng có những chuyện thuộc về phần việc của người cha và bà phải làm luôn cả phần ấy.

Ba cậu con trai đang bước vào tuổi thiếu niên ở một xứ sở xa lạ. Chuyện bạn bè, chuyện đánh nhau ở trường, chuyện chọn nghề, rồi sau này là chuyện yêu đương và hôn nhân. Mọi quyết định bà đều phải tự đưa ra một mình, không có ai để bàn bạc trong đêm. Bà làm mẹ từ hồi còn ở Việt Nam nên phần ấy đã quen tay, phần khó là làm cha.

Có những buổi tối, bà ngồi rất lâu trước một tờ giấy của nhà trường mà chưa biết ký thế nào. Có những lần một đứa con trai về nhà với vết bầm trên mặt và không chịu nói vì sao. Bà không có ai để hỏi cho ra lẽ, cũng không có ai để trút giận. Bà đành làm cái việc mà bà đã tập rất nhiều năm là ngồi xuống hỏi từ từ rồi tự quyết định. Sáng hôm sau bà lại dậy sớm, lại đến tiệm, lại bật đèn và lau gương. Cuộc đời bà chia làm hai ca như thế, ngày này qua ngày khác, suốt hơn 30 năm, người ta hay nghĩ rằng một người đàn bà mất chồng trong chiến tranh sẽ sống bằng nỗi đau. Trường hợp này thì khác, bà sống bằng thời khóa biểu, 7 giờ mở tiệm, 6 giờ ra về, cuối tuần đi chợ. Chính cái nhịp lập đi lập lại ấy đã giữ bà lại năm này qua năm khác khi mọi thứ khác đã mất hết.

Muốn hiểu vì sao người phụ nữ ấy đủ sức gánh cả hai vai trong ngần ấy năm phải quay ngược về rất xa. Không phải về tháng Tư năm 1975, cũng không phải về những ngày đầu ở nước Mỹ mà phải trở lại một mùa hè cách đó hơn 20 năm ở một con phố mang tên Cầu Đất, thành phố Hải Phòng. Ở đó có một cô bé sắp phải rời khỏi nhà mình và cô bé ấy còn quá nhỏ để hiểu vì sao. Từ Cầu Đất đến tiệm tóc ở Virginia là một quãng đường dài hơn nửa vòng trái đất. Trên quãng đường ấy, bà lần lượt là con gái của một gia đình di cư rồi là nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn. Sau đó, bà thành vợ lính thành phu nhân của một vị tướng rồi thành góa phụ. Mỗi vai trò đến rồi đi theo một biến động của thời cuộc, không vai nào do bà chọn. Chỉ có vai cuối cùng là bà tự chọn và giữ đến tận cùng. Vai ấy không có tên gọi trang trọng nào cả. Nó chỉ đơn giản là làm mẹ.

Trong tiệm tóc có một điều nhỏ mà những người làm chung để ý thấy nhưng chưa bao giờ hỏi. Cả năm bà không nghỉ ngày nào kể cả khi cảm sốt chỉ có đúng một ngày vào những ngày cuối cùng của tháng Tư bà xin nghỉ trước cả tháng. Bà không giải thích, bà chỉ nói rằng nhà bà có giỗ. Người chủ tiệm gật đầu ghi vào sổ và không hỏi thêm. Còn lũ trẻ ở nhà thì biết rõ hơn một chút. Chúng biết vào ngày đó mẹ dậy rất sớm thắp hương bày một mâm cơm nhỏ. Chúng biết không được bật nhạc, không được cãi nhau, không được hỏi. Và chúng biết rằng người được cúng trong ngày ấy là bố chúng dù đã nhiều năm trôi qua mà chưa đứa nào được nhìn thấy mộ ông ở đâu.

Cầu Đất Hải Phòng, mùa hè năm 1954

Cả con phố đang lặng lẽ thu dọn để ra đi. Trên phố Cầu Đất năm ấy, cửa hàng vẫn mở, xe kéo vẫn chạy nhưng không khí đã khác hẳn. Người lớn nói chuyện với nhau bằng giọng thấp hơn thường ngày. Họ nhắc đến một hiệp định vừa ký ở Genève. đến một đường ranh giới chạy ngang đất nước đến những chuyến tàu sẽ rời cảng. Trẻ con thì chưa hiểu gì, chúng chỉ thấy nhà mình bỗng dưng bày ra giữa sàn một chiếc rương gỗ lớn và mẹ chúng ngồi bên cạnh xếp đi xếp lại mấy bộ quần áo. Trong số những đứa trẻ ấy có một cô bé tên Yến.

Cô còn rất nhỏ, nhỏ đến mức sau này khi kể lại cô chỉ nhớ được vài mảnh rời dạc, nhớ mùi nước biển ở cảng. Nhớ tiếng người gọi nhau lẳng giọng, nhớ bàn tay mẹ nắm chặt cổ tay mình chặt đến mức hơi đau và không chịu buông ra suốt cả buổi. Cha mẹ cô đã quyết định vào Nam như hàng trăm nghìn gia đình miền Bắc khác trong năm đó. Cuộc di cư ấy kéo dài suốt nhiều tháng, đưa gần 1 triệu người rời khỏi nơi họ đã sống nhiều đời. Chiếc rương gỗ được đóng lại cả một đời sống cũ nằm gọn bên trong nó. Người ta chỉ mang theo được những thứ thật cần. Vài bộ quần áo, ít giấy tờ, mấy tấm ảnh, một chút tiền, bàn ghế bỏ lại, nhà cửa bỏ lại, hàng xóm bỏ lại. Có những gia đình chia đôi ngay trên bến cảng người đi kẻ ở và họ hẹn nhau 2 năm sau sẽ gặp lại theo lời của bản Hiệp định. Rất nhiều lời hẹn trong số đó đã không bao giờ được thực hiện.

Cô bé Yến bước xuống tàu, tay vẫn nắm áo mẹ, mắt nhìn ngược lại phía bờ, bến cảng lui dần nhỏ lại rồi mất hẳn sau lớp sương biển. Trên bong tàu chật cứng người, có tiếng trẻ khóc, có tiếng cầu kinh, có người nôn thốc vì sóng.

Chuyến đi kéo dài mấy ngày liền. Khi tàu cập bến ở miền Nam, cái nóng ập vào mặt mọi người như một bức tường. Đó là thứ đầu tiên mà những người từ Hải Phòng nhận ra ở vùng đất mới. Nơi không có mùa đông.

Sài Gòn những năm sau đó, gia đình cô Yến bắt đầu lại từ đầu như mọi gia đình di cư khác. Cha mẹ cô xoay sở tìm chỗ ở, tìm việc, tìm trường cho các con. Ở thành phố ấy, người Bắc mới vào, nói giọng khác, ăn uống khác, gọi tên các món đồ cũng khác. Trẻ con bị bạn học trêu vì cái giọng của mình. Cô bé Bắc Kỳ nhỏ nhắn ngày nào ở Cầu Đất được đi học hòa vào đám đông và học rất nhanh. Gia đình quyết định cho cô theo học chương trình Pháp ngay giữa lòng Sài Gòn. Đó là một lựa chọn không hề rẻ và nó nói lên nhiều điều về kỳ vọng mà cha mẹ đặt vào cô.

Trường Đầm khi ấy là nơi con gái nhà khá giả theo học, học trò mặc đồng phục, nói tiếng Pháp trong lớp đọc sách Pháp, viết chính tả Pháp. Cô Yến học ở đó nhiều năm và vốn tiếng Pháp ấy theo bà đi suốt cuộc đời kể cả khi bà đã sang tới nước Mỹ. Chỉ có điều thứ vốn liếng ấy sẽ không bao giờ được dùng vào việc mà người ta hình dung. Chiếc rương gỗ từ Hải Phòng vẫn còn nằm trong góc nhà đựng đồ cũ.

Những năm cuối thập niên 50, Sài Gòn là một thành phố đang phình ra rất nhanh. Người từ miền Bắc vào, người từ miền Trung xuống, người từ các tỉnh miền Tây lên. Ngoài đường, xe nhà binh chạy chung với xe xích-lô trong các rạp chiếu bóng phim Pháp chiếu bên cạnh phim Mỹ. Chiến sự thì vẫn ở đâu đó xa tại những vùng quê mà báo chí nhắc bằng những cái tên nghe rất lạ. Với một nữ sinh trường Đầm chiến tranh khi ấy còn là chuyện của người lớn. Rồi năm cô 17 tuổi, có một người bước vào đời cô. Người ấy là một sĩ quan quân đội, hơn cô hơn 10 tuổi. Đó là một khoảng cách không nhỏ ở một thời mà con gái lấy chồng sớm. Ông đã đi lính từ khi cô còn là đứa trẻ ở Hải Phòng. Ông đã qua nhiều cuộc hành quân, đã sống trong doanh trại nhiều hơn ở nhà. Còn cô thì vẫn đang mặc đồng phục nữ sinh, vẫn học chính tả tiếng Pháp mỗi sáng. Vậy mà giữa hai người ấy có một điều rất hiếm. Từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn, cô Yến chỉ có duy nhất một mối tình. Không có mối tình nào trước đó cũng không có ai khác xen vào giữa. Trong 2 năm quen nhau, ông vẫn đi hành quân, vẫn vắng mặt liên miên. Cô ở lại thành phố đi học, đợi thư, đợi những lần ông về phép ngắn ngủi. Đó là kiểu tình cảm rất đặc trưng của một xứ sở đang có chiến tranh nên người ta yêu nhau bằng những khoảng cách và những lần gặp vội. Cô gái ấy chưa hình dung được cái giá của việc lấy một người lính.

Trong nhà cha mẹ cô cũng có phần đắn đo. Gả con gái cho một sĩ quan tác chiến, nghĩa là chấp nhận rất nhiều điều bất trắc. Nghĩa là con mình sẽ sống ở những nơi đơn vị đóng quân chứ không phải ở đô thị. Nghĩa là mỗi lần có tin chiến sự cả nhà lại phải nín thở chờ. Nhưng cô Yến đã quyết và cô là người con gái rất ít khi đổi ý. Về phía chú rể, gia đình nhà trai gần như không có ai ở bên cạnh.

Ông vô Nam một mình, không anh em ruột thịt đi cùng, không họ hàng gần để nương tựa. Đơn vị chính là gia đình của ông suốt 10 năm trời. Vì vậy, đám cưới năm ấy vừa là ngày vui của hai người trẻ. Vừa là ngày một người lính lẻ loi bắt đầu có một mái nhà thật sự. Có lẽ đó cũng là lý do khiến ông đặt tên các con sau này một cách rất nghiêm cẩn như đặt vào đó cả những gì ông tin.

Một buổi chiều Sài Gòn trước ngày cưới

Người trong họ nhìn cô và thấy một đám cưới đẹp. Chú rể là sĩ quan có tương lai. Cô dâu là nữ sinh trường Pháp. Hai gia đình cùng gốc Bắc di cư. Trên bàn thờ nhà trai hôm ấy có một điều mà rất ít khách để ý. Không có mặt mẹ chồng. Không phải bà cụ ốm. Cũng không phải bà cụ giận. Bà cụ đang ở lại phía bên kia vĩ tuyến tại một làng quê thuộc tỉnh Sơn Tây. Người đàn ông sắp cưới cô cũng là dân Bắc di cư năm 1954. Đúng như gia đình cô, ông sinh ngày 22 tháng 10 năm 1933 tại Sơn Tây, đi lính từ đầu thập niên 50 rồi theo dòng người vào Nam.

Ngày ông bước lên tàu, mẹ ông ở lại.Từ khoảnh khắc ấy, hai mẹ con mất liên lạc hoàn toàn.Không thư từ, không tin tức, không một lần biết được người kia còn sống hay đã mất. Khoảng cách ấy không phải là mấy trăm cây số, nó là một đường ranh giới không thể bước qua. Nghĩa là khi cô Yến về làm dâu, cô về làm dâu một người mà cô chưa từng nhìn thấy mặt. Suốt những năm sau đó, cô sinh 4 đứa con và không đứa nào được bà nội bế lấy một lần. Bà cụ ở Sơn Tây không hề biết con trai mình đã cưới vợ, không biết mình đã có cháu nội, không biết tên chúng là gì.

Sự im lặng ấy kéo dài đúng 21 năm và điều nghiệt ngã nhất nằm ở kết thúc. Mãi đến sau tháng Tư năm 1975 khi gia đình đã sang tới nước Mỹ, họ mới tìm được đường báo tin về miền Bắc. Lá thư ấy mang theo hai tin cùng lúc. Bà cụ biết mình có một cô con dâu và 4 đứa cháu ở bên kia trái đất. Và ngay trong cùng một lá thư đó, bà cụ biết con trai mình đã chết. Nhưng đó là chuyện của hơn 20 năm sau.

Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng

Sài Gòn mùa xuân năm 1964. Cô gái gần 19 tuổi ấy chưa biết gì hết. Cô chỉ biết mình sắp lấy người mà mình đã yêu từ năm 17 tuổi. Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng được lôi ra khỏi góc nhà lau sạch, dùng để đựng đồ cưới. Cái rương từng chở một cuộc đời cũ băng qua biển, giờ chở một cuộc đời mới sắp bắt đầu.

Trong đám cưới hôm ấy có một tấm ảnh được chụp lại và tấm ảnh đó sẽ đi rất xa. Nó theo bà qua cuộc chiến. Nó theo bà lên máy bay rời Sài Gòn. Nó nằm trong chiếc ví bà mang tới tiệm tóc ở Virginia mỗi ngày phía sau giấy tờ tùy thân. Lớp nhựa mỏng bọc ngoài đã ngả vàng theo năm tháng. Người đàn ông trong ảnh mặc quân phục, gương mặt gầy, ánh mắt thẳng. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ.

Sài Gòn mùa xuân năm 1964, một đám cưới giữa thời buổi không ai dám hẹn xa. Hôm ấy, cô Phan Thị Minh Yến vừa tròn 19 tuổi, chú rể 31 tuổi mang cấp bậc Đại úy. Trong ảnh cưới, cô đứng nhỏ nhắn bên cạnh người đàn ông cao gầy mặc lễ phục. Cô cười kiểu cười khép nép của con gái Sài Gòn thời ấy. Ông thì nghiêm gần như không cười, đôi mắt nhìn thẳng vào ống kính. Nó là gương mặt của một người đã quen đứng trước hàng quân hơn là đứng trước máy ảnh. Tấm ảnh ấy được lồng khung treo lên tường căn nhà đầu tiên của hai vợ chồng. Cuộc sống mới bắt đầu ngay lập tức và nó không giống chút nào với đời sống của một nữ sinh trường Đầm.

Chồng cô là sĩ quan tác chiến nên gia đình phải ở gần nơi đơn vị đóng quân. Từ những dãy phố có cây me và tiệm bánh Pháp, cô chuyển về sống trong khu gia binh. Nhà cửa ở đó đơn sơ vách mỏng mái tôn nóng hầm hập vào buổi trưa. Hàng xóm đều là vợ lính con lính, ai cũng nói cùng một thứ ngôn ngữ của sự chờ đợi.

Người vợ trẻ học rất nhanh. Như hồi bé, cô từng học cách hòa vào đám bạn Sài Gòn. Cô học cách nấu ăn cho đông người vì lính của chồng hay ghé nhà. Cô học cách nhận ra tiếng động cơ của loại xe nào đang vào cổng. Cô học cách không hỏi chồng đi đâu vì có hỏi ông cũng không được phép nói. Và cô học điều khó nhất là ngủ được trong những đêm ông vắng nhà. Trên tường tấm ảnh cưới vẫn treo đó. Ngày càng ngả màu vì hơi ẩm và khói bếp.

Trong 10 năm làm vợ lính, cô đã dọn nhà nhiều lần đến mức không buồn đếm. Chồng cô là người xuất thân từ binh chủng Nhảy dù được thăng Đại úy từ năm 1955. Sau đó ông rời Nhảy dù về Sư đoàn 5 Bộ binh. Ông lần lượt nắm tiểu đoàn, làm chi khu trưởng ở Bến Cát. Rồi đến năm 1965 thì chỉ huy một trung đoàn. Với người ngoài đó là một quân ngũ đẹp. Với người vợ mỗi cái tên đơn vị mới đồng nghĩa với một lần đóng gói đồ đạc.

Chiếc rương gỗ ngày xưa mang từ Hải Phòng giờ lại được dùng đúng vào việc cũ. Bên trong khu gia binh một buổi sáng những đứa con lần lượt ra đời. Đứa đầu là con trai đặt tên Quang, đứa thứ hai cũng trai đặt tên Minh, đứa thứ ba lại con trai đặt tên Chính. Ba cái tên đứng cạnh nhau đã thành một câu và người cha rõ ràng đã tính sẵn từ đầu đến đứa thứ tư, một bé gái chào đời. Và cái tên còn lại được đặt là Đại – Quang, Minh, Chính, Đại ghép lại thành 4  chữ mà người xưa vẫn dùng để nói về cách sống ngay thẳng sáng rõ đàng hoàng. Đó không phải là tên chọn cho đẹp, nó là tâm niệm của một người lính gửi vào các con mình giữa một đất nước đang nghiêng ngả vì chiến tranh. Ông không viết di chúc, không để lại hồi ký nhưng ông đã ghi điều mình tin vào giấy khai sinh của cả 4 đứa trẻ. Riêng cô con gái út thì có tới 2 cái tên và câu chuyện về nó rất dịu dàng. Ở nhà cả gia đình gọi em là em Đại đúng theo cái tên trong bộ 4 chữ kia. Nhưng khi ra ngoài lớp học, cô bé lại mang một cái tên mềm hơn nhiều là Tường Vi.

Người mẹ gốc Hải Phòng đã chọn thêm cái tên ấy cho con gái mình. Một bên là chữ của cha mang khí chất của người lính, một bên là chữ của mẹ mang dáng của một loài hoa. Đứa con gái út lớn lên với cả hai cái tên đó và sau này em giữ cả hai.

Trần Vũ chép lại và hiệu đính từ bản thâu âm phát thanh trên youtube Ký sử 1975.

Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 17 Oct 2026

Dạo ấy là đầu xuân năm 1980. Vừa nghỉ Tết xong là tù cải tạo thuộc trại K2 Thanh Phong chúng tôi bắt đầu vào chiến dịch “đưa nước về đồng”. Trại Thanh Phong nằm ở một miền sơn cùng thủy tận, sát gần biên giới Lào. Từ đường quốc lộ 1, Ga Thanh Hóa vào đây, ô tô đi thông đồng bén giọt cũng phải mất một ngày. Đấy là mùa khô, còn mùa mưa thì không biết đâu chừng. Có khi hai, ba ngày, có khi hàng tuần hay nửa tháng vì chỉ có đường xe chạy đến huyện lỵ Như Xuân. Từ huyện ly Như Xuân đến chỗ thiết lập trại tù còn chừng 20 cây số thì không còn đường tỉnh lộ mà chỉ còn đường đất, đường rừng; qua sông, qua suối là xe tải phải lựa đường mà đi qua, không có cầu có cống. Mưa xuống nước trên nguồn tràn về, sông suối dềnh lên là “cách núi ngăn sông” ai ở đâu, ở đó không còn lưu thông gì được nữa. Có lần tháng 7 mưa ngâu, vợ chồng cô em gái tôi ở quê nhà Sơn Tây lên thăm nuôi nhưng vừa đến huyện lỵ Như Xuân là trời mưa bão, không còn đi vào Thanh Phong được. Hai vợ chồng nó và chú em cứ ngồi nhà trọ mà chờ đợi cho trời ngớt mưa, ngớt bão. Chờ hơn một tuần mà không ngớt, nước sông nước suối vẫn cứ cuồn cuộn đổ về. Vẫn còn mưa ở thượng nguồn. Ba người đi thăm nuôi đem cho người thân tù cải tạo được 20 ký gạo, mà trên 10 ngày nằm đợi ở huyện Như Xuân, ăn hết số gạo “thăm nuôi” mà vẫn chưa đi tiếp được. Đành phải quay về.

Ngày xưa hồi kháng chiến, vào đến khu 4 này, ở chợ Rừng Thông, cầu Bố nghe nói đến miền đất Hồi Xuân, La Hán là đã thấy rụng rời. “Con đường đi La Hán, xa như đường lên trời, đôi giày tao vẹt đế, hồn tao chia đôi nơi” (1), nhưng mà Hồi Xuân, La Hán thời ấy mà sánh với trại Thanh Phong bây giờ thì chưa thấm vào đâu. Hồi Xuân, La Hán mới chỉ bằng một nửa đường đi đến Thanh Phong. Thật ra, tù cải tạo chúng tôi không được rõ cho lắm về địa dư của miền đất này. Nội qui của tù cải tạo rất nghiêm ngặt: cấm không được tiếp xúc với dân, cấm không được đọc sách báo chưa được kiểm duyệt, cấm tuyệt không được nghe radio riêng cho nên tù cứ như ếch ngồi đáy giếng. Chúng tôi chỉ cảm nhận được sự xa xôi, hẻo lánh của miền đất này khi nghe tin là ở trên K1, phân trại cách chúng tôi chừng 4, 5 cây số (nơi giam giữ anh em Biệt kích, những người tù thâm căn cố đế từ đầu thập niên 60, cùng với những tù nhân quốc tế khác như người Lào, người Thái, người Miên, người Trung Hoa, người Mã Lai, v.v … dưới niêm hiệu chung là CIA) có một người phụ nữ Lào đã đi xuyên rừng núi trong thời gian hai ngày tới được đây thăm chồng là một biệt kích người Lào.

___________________

Thơ Tất Vinh

Như vậy đây chắc gần với Hạ Lào. Chúng tôi thấy dân cư ở đây phần đông là đồng bào thiểu số – có nhiều người họ Đái. Từ đó tôi mới nhớ đến một bậc đàn anh thời tiền chiến là Đái Đức Tuấn hay còn gọi là Tchya, vốn người Thanh Hóa này. Đàn anh Tchya những khi “phùng trường tác hí” thường xưng Vương vì anh là dòng dõi lang, đạo nổi tiếng của vùng sâu tỉnh Thanh. Tác phẩm của anh là “Thần Hổ”, là “Ai hát giữa rừng khuya” nói về những truyền thuyết vừa linh thiêng vừa rùng rợn của một miền đất thâm u còn thưa thớt dấu chân người. Miền đất thâm u ấy là đây chăng?

Đưa những tù nhân cải tạo thuộc diện “ác ôn, côn đồ, có nợ máu với nhân dân” đến miền đất “khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối” này, những người Bôn sê vích muốn cùng một lúc làm một công hai việc. Đem những tù nhân mà họ căm giận nhất cho nếm mùi lao động khổ sai tại một miền nước độc đồng thời dùng “nước sông, công tù” khai phá một vùng đất hoang vu. Cái chiến dịch kêu bằng “đưa nước về đồng” khởi diễn đầu xuân 80 cũng nằm trong phương hướng ấy. Vì phải đi đào mương dẫn nước, nên tù cải tạo phải đi làm xa các nông, lâm trường thường lệ. Tụi tôi bữa nay lao động ở một khu gần bờ suối, có mấy gia đình người kinh ở rải rác xung quanh. Người kinh ở trong nhà lợp tranh hoặc rạ, có vườn, có sân, có giếng nước. Nhà đồng bào Thái thường là nhà sàn, hoặc nhà rông bằng gỗ cổ kính, những cây cột nhà bằng danh mộc đã lên nước bóng đen. Bên cạnh những nhà sàn vững chắc, to lớn, những ngôi nhà của người kinh xem ra èo uột, sơ sài … Trong một ngôi nhà có bụi mía lưu niên lên nước vàng ngà bên bờ dậu, xuất hiện 2 chị em cô gái người kinh tha thướt. Giữa những đồng bào thiểu số lùn đậm và chất phác hai chị em cô gái người kinh trông giống như hai cô tiên bị một hình phạt nào trên thượng giới mới lưu lạc xuống cõi trần. Hai người con gái rất thanh tú, quần áo đen đạm bạc vẫn không che dấu nổi cốt cách trâm anh. Làn da trắng xanh, trắng xanh vì quý phái hay trắng xanh vì nước độc. Có lẽ cả hai. Hai người con gái rất đẹp nhưng rất buồn, tuổi cũng không còn trẻ nữa. Cô chị chừng ngót 30, cô em chừng 26, 27. Cái sắc đẹp mong manh sắp tàn, trong một khung cảnh âm u như ở nơi đây, gieo trong tâm hồn tôi một nỗi ngậm ngùi khó tả. Vì trại cách nơi làm việc cũng khá xa, chừng ba cây số nên buổi trưa tù ở lại tại chỗ; ăn qua quýt cho xong rồi tìm chỗ bóng cây nằm vật vạ cho tới giờ làm việc buổi chiều. Một người bạn trẻ, cựu phi công (nghe phong thanh ở nhà vợ mới đem con trả cho “bà nội”) cùng tôi nằm tạm nghỉ dưới gốc cây sầu đâu ở gần bụi mía. Chợt cô gái (người em) đi ra vườn cầm một con dao đi lại chỗ bụi mía và chặt một lúc 5, 6 cây. Cô kéo mía đến gần chỗ chúng tôi và nói “các chú ăn đi”. Tù mà thấy mía là mừng hết lớn nhưng nội qui cấm liên hệ với dân, cấm chuyện trò, trao đổi cho nên chúng tôi đưa mắt nhìn về phía cán bộ quản giáo đang ngồi bên bờ suối. Cô gái lẳng lặng đi gặp anh công an. Anh này xưa nay hắc ám có tiếng nhưng không biết cô gái trình bày ra sao mà anh ta đi lại chỗ chúng tôi mà nói “Các anh chia nhau ăn đi”. Cô em lại chặt thêm 9, 10 cây nữa để có đủ mía chi cho cả đội. Trong một xứ sở nghèo nàn lạc hậu như miền Bắc Việt Nam, con cá lá rau là điều quý hiếm, tại sao gia đình hai cô gái người kinh này lại quá hào phóng với anh em tù như vậy? Cô chị ở trong nhà chạy ra, tiếp tay chặt mía với cô em và nói “các chú ăn hộ đi”.

Anh công an quản giáo vì có người đẹp ở gần nên cũng dễ hãi hẳn ra. Anh cho phép chúng tôi, tôi và anh bạn tù phi công, đi ra sau nhà chỗ giếng nước, rửa mặt. Cô em đi lấy gầu cho chúng tôi kéo nước. Qua câu chuyện đổi trao ngắn gọn bên bờ giếng giữa anh bạn trẻ phi công và cô gái, tôi được biết là gia đình cô thuộc diện “chỉ định cư trú”, nhà nước cho phép ở đâu mới được ở. Ông nội cô trước đây làm tri phủ Nho Quan, Ninh Bình. Sau 1954 gia đình cô “được” đưa đi định cư trong vùng núi rừng Thanh Hóa. Ba của cô đi dân công chết trong chiến dịch Hạ Lào. Mẹ cô mới chết cách đây hai năm vì ngã nước. Gia đình thuộc diện “chỉ định cư trú” nên cô không được ở đâu lâu. Cứ đến khai khẩn xong một vùng đất hoang, ở được chừng 5, 7 năm, nhà nước lại chỉ định đi nơi khác, vào sâu nữa trong rừng. Gia đình cô đến Như Xuân này đã là chỗ định cư thứ 5. Vừa có lệnh gia đình cô sắp phải dời đi nơi khác nữa. “Cho nên các chú không ăn hộ mía đi thì cũng không biết để làm gì”. Gia đình cô hiện tại chỉ còn ba người, hai chị em cô, và ông nội cô, tri phủ Nho Quan cũ, bây giờ đã trên 80 tuổi.

Chợt có tiếng động ở đầu nhà. Từ khuôn cửa một ông già chống gậy bước ra. Cụ già râu tóc bạc phơ, mặc một cái áo pardessus đã cũ nát, cái kính lão xệ xuống gần sống mũi, đang run rẩy đứng bên thềm nhà. Cụ nâng cặp kính lên nhìn chúng tôi và khẽ kêu lên thảng thốt: “Eh alors, mes enfants … ” (Này các con ta … ) Vừa nói xong, không biết vì xúc động hay vì quá già yếu, cụ già dựa vào khung cửa mà ho rũ rượi từng cơn. Cô gái chạy vội đến đỡ ông và nói “Khổ lắm ông ơi, ông ra đây làm gì nữa … “

“Này các con ta … ” ông cụ chắc đã chờ đợi chúng tôi mấy chục năm trời với bao nhiêu hy vọng. Bây giờ không ngờ ông gặp chúng tôi trong hoàn cảnh này, cùng một kiếp tù xơ xác … Tôi nghĩ ngày mai đây không biết ông cụ già trên 80 tuổi kia, sẽ còn lưu lạc nơi đâu; Những cô con gái thanh tân kia sẽ sống ra sao trong xó rừng u uất?

Trận chiến đấu bi hùng cuối cùng của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu 1975

Colorado 24/10/2002

Nguyễn Anh Dũng/Lâm A Sáng
Post by Sơn râu 16 Oct 2026

Từ bên bờ sông Bến Hải, vết xích chiến xa T54 và các sư đoàn Bắc quân đã xóa nát văn kiện hiệp định Ba Lê 1973, tiến dần về Nam. Như một thứ định mệnh oan nghiệt, cả nước bị ém chặt và bức tử theo ván bài chiến lược quốc tế được quyết định từ bên ngoài cương thổ Việt Nam. Từng tấc đất bị mất. Hoa Kỳ làm ngơ, thế giới cúi mặt… Mất Quảng Trị, Huế, Ðà Nẳng, Qui Nhơn, Cao Nguyên, Nha Trang, Phan Thiết…Và rồi đầu tháng Tư 75, Bắc quân bị Sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Ðảo chận khựng tại Long Khánh 12 ngày đêm, sau đó địch tiếp tục tràn về ven biên ngoại ô Sài Gòn. Quân ta cứ rút, cứ rút. 

Vũng Tàu, những ngày cuối tháng Tư năm 1975, một trong những phần thân thể còn lại của Tổ Quốc cũng đang lên cơn sốt hốt hoảng, náo động. Dòng người di tản, cả lính lẫn dân, đổ về Vũng Tàu từ cả hai mặt, đường bộ cũng như đường biển. Vũng Tàu chênh vênh bên bờ nước, tuyệt vọng, cùng đường. 

Ngày 26 tháng 4, Bắc quân tấn chiếm Biên Hòa, Bà Rịa, sau đó, cầu Cỏ May nối liền Bà Rịa và vũng Tàu bị giật sập. Vũng Tàu co ro trong thế cô lập, chờ chết! Nhưng trường Thiếu Sinh Quân thì dường như không. Truờng tọa lạc ngay cửa ngõ của thị trấn, song lại bị ngăn cách bởi những vách tường vách đá kiên cố bao quanh, cái giao động âu lo, tuyệt vọng từ một Vũng Tàu hỗn loạn không lọt vào trường. Các Thiếu Sinh Quân vẫn sinh hoạt đều đặn như mọi ngày, Thiếu Sinh Quân liên lớp 12 ( lớp người viết) đang trong thời gian học thi tốt nghiệp vẫn cúi đầu miệt mài với sách vở. Trong thời gian này, phần lớn các Thiếu Sinh Quân lớp nhỏ cư ngụ ở các vùng Sài Gòn, các tỉnh vùng 3 và vùng 4 được nhà trường cho về với gia đình, còn các Thiếu Sinh Quân ở vùng 1 và vùng 2 phải ở lại trường do tình hình chiến sự rối reng hay đã mất vào tay Bắc quân, vì thế không khí nhà trường càng ngày càng nặng nề, yên tĩnh.. Cái nặng nề và yên tĩnh đó trở nên ngột ngạt căng thẳng dần khi chúng tôi nhận ra nét âu lo, bức xúc trên những gương mặt của các cán bộ và nhân viên cơ hữu nhà trường. 

Ngày 28 tháng Tư, chúng tôi được lệnh tập hợp sau bữa ăn chiều. Trung tá Ngô Văn Doanh, Chỉ huy trưởng, thông báo tình hình khẩn cấp, ban hành lệnh giới nghiêm và tuyên bố:

– Các em không có gì phải rối loạn, lo âu! Nhà trường đã có kế hoạch di tản! 

Mặc dù còn trẻ, nhưng chúng tôi đã cảm thức cái nguy cơ, cái bất thường tuyệt vọng của tình hình đất nước trong những ngày qua, nên dù đã được Chỉ huy trưởng trấn an, chúng tôi cũng đã phải trải qua một đêm mất ngủ. Tổ quốc, tương lai, gia đình, bè bạn và ngôi trường thân yêu này ngày mai sẽ ra sao? Chúng tôi trằn trọc đến sáng, khi mặt trời lên, trên gương mặt của đám Thiếu Sinh Quân chúng tôi, ai cũng hiện lên những nét lo âu, sợ sệt của đám gà con đang bối rối rúc chui dưới lông cánh gà mẹ trong lúc diều hâu lờ lững lượn trên vòm trời xanh. 

Khung trời rộng dường như nhỏ dần lại trên khoảng không gian trường Thiếu Sinh Quân sáng ngày 29 tháng Tư, cùng lúc những âu lo của anh em lại trương lớn dần và căng thẳng thêm. Bỗng chợt âm thanh của đạn trọng pháo chẳng biết từ đâu xé gió rít qua không gian… và Ầm! Ầm!.. Tiếng nổ ù tai của những viên đạn rơi vào chân núi đài viba sát đàng sau lưng trường. Ðại úy Lê Viết Ðắc, cán bộ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Hùng Vương, liên lớp 12 rút súng ra khỏi vỏ, chạy ngược chạy xuôi lệnh cho các Thiếu Sinh Quân nằm sát xuống đất để tránh miểng đạn. Trong bối cảnh của tiếng những mảnh đất đá rơi xào xạc trộn lẫn âm thanh vang dội của đạn trọng pháo, ông như một con gà mẹ dáo dác bảo bọc đàn con.

T.S.Q. diễn binh trong khuôn viên trường vào mỗi sáng thứ Hai hằng tuần sau buổi lễ chào quốc kỳ V.N.C.H.

Không biết mục tiêu những viên đạn trọng pháo đó là ai, là trường Thiếu Sinh Quân hay đơn vị đồn trú tại đài viba gần trường, nhưng âm thanh của tiếng nổ và cảnh núp đạn lần đầu tiên kể từ ngày vào trường đã gieo trong đầu non nớt chỉ biết ăn học và chơi của chúng tôi cái cảm giác kỳ lạ, hoang mang, lo sợ về sự sống, sự chết. Chúng tôi vẫn nằm yên. Ðịch pháo thêm vài đợt, đạn rơi bên ngoài trường, sau đó rồi im. Tình hình yên tĩnh trở lại. 

Khoảng 11 giờ trưa, trong cái cảm giác mang mang, tuyệt vọng, toàn trường như bất động lặng yên nghe tiếng Ðại úy Hoàng, cán bộ Liên đoàn trưởng, thông báo qua loa phóng thanh:

– Toàn trường chuẩn bị di tản! Các thiếu Sinh Quân cấp trưởng trang bị vũ khí và nhận nhiệm vụ hướng dẫn và bảo vệ đoàn quân. Tập hợp kiểm điểm quân số! Chuẩn bị lên đường khi có lệnh! 

Thế là hết! Cơn bão lịch sử sắp tràn qua ngôi trường thân yêu đầy những kỷ niệm của tuổi thơ. Lệnh ra được tuân theo răm rắp. Khoảng xế 1 giờ trưa, toàn thể Thiếu Sinh Quân bắt đầu di chuyển khỏi nhà trường cùng với tất cả cán bộ nhân viên. Ðoàn di tản bắt đầu rời trường theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Là Thiếu Sinh Quân Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Hùng Vương, liên lớp 12, tôi đi hàng đầu cùng các em nhỏ. Ðội ngũ Thiếu Sinh Quân lặng lẽ di chuyển dưới ánh nắng Vũng Tàu chói chang. 

Ða số anh em là những đứa trẻ mất cha, mất mẹ trong chiến tranh, ngôi trường Mẹ Thiếu Sinh Quân trở thành tổ ấm đầu đời và tương lai, nay phải đoạn lìa, phải ra đi, những trái tim non đã bước đi những bước bùi ngùi, vương vấn. Ði về đâu? Với ai? Thông báo toàn trường được di tản bằng tàu không là câu trả lời trọn nghĩa cho những ý nghĩ mênh mang trong đầu những đứa trẻ chưa thành người lính.. Ðột nhiên, nữa đường di chuyển, chúng tôi bị một số anh Thủy Quân Lục Chiến chận lại. Trung tá Dzoanh đến tiếp chuyện cùng người chỉ huy toán lính TQLC… Chúng tôi không rõ nội dung cuộc nói chuyện, song thấy không khí và sắc mặt cả hai bên đều lộ vẻ căng thẳng. Qua tiếng được, tiếng mất, chúng tôi đoán Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm giữ bến cảng để họ di tản. Họ buộc chúng tôi phải quay trở lại trường. Cuối cùng, lệnh quay về trường được ban ra. Trên đường về, tâm hồn tất cả mọi người đều trĩu nặng. Bắc quân càng lúc càng sát nách, đường thoát bị tắc nghẽn, sinh lộ càng lúc càng hẹp dần. Không ai bảo ai, tất cả mọi người đều thấy cái cơ may được di tản rất là mong manh. 

Về đến sân trường, chúng tôi được tập trung ở sân banh. Chỉ huy trưởng thông báo là kế hoạch di tản được thay đổi. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ được bốc tại trường bằng trực thăng để đưa ra Hạm Ðội 7 đang chờ ngoài khơi Vũng Tàu. Thời gian như chậm lại, nặng nề. Cả đám chúng tôi bật dậy như những chiếc lò so khi thấy một chiếc trực thăng đáp xuống sân trường, niềm hy vọng lại nhen nhúm bốc lên theo đám bụi mù tung cao theo cánh quạt. Hành khách chuyến không vận đầu tiên này gồm một cố vấn Mỹ mặc thường phục, Trung sĩ I Ngộ, cán bộ của trường và 7 em Thiếu Sinh Quân thuộc Tiểu đoàn Quang Trung là liên lớp nhỏ nhất trường. Chuyến bay cất cánh rời khỏi vận động trường. Chúng tôi thẫn thờ tìm chỗ ngồi chờ đợi. Thời gian kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ mà chúng tôi có cảm tưởng như một thế kỷ. Anh em nhìn lên bầu trời xanh chờ bóng dáng một chiếc trực thăng, chờ âm thanh cánh quạt, mỏi mòn, tuyệt vọng. Chiếc trực thăng cứu tinh ngày càng biền biệt tăm hơi khi bóng chiều ngả bóng dần trên sân trường. Nhìn lên cột cờ, lá cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc vẫn còn tung bay. Nhìn xuống sân trường, đoạn trường, ngao ngán. 

Khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi sững sờ nhìn chiếc xe chở Trung tá Chỉ huy trưởng lăn bánh vội vàng rời cổng trường. Trái tim tôi nghẹn đắng một nỗi uất ức kèm theo một nỗi chới với, hoảng hốt của một đứa bé lạc mẹ giữa buổi chợ đông nghẹt những người. Rồi phóng thanh, một lần nữa, xác định một thực tế phủ phàng:

– Kể từ giờ phút này, chúng tôi không còn trách nhiệm với các em nữa! Các em hãy tự lo lấy bản thân! 

Thế là đã quá rõ! Chúng tôi bị bỏ rơi! Ngôi trường này là nhà. Cán bộ là người thân. Giờ đây chúng tôi biết làm gì, và biết đi về đâu. Những trái tim non uất nghẹn, chới với, hoảng hốt. Và thế là như một bầy ong vỡ tổ, chúng tôi tản mát tung ra chạy khỏi trường. Nhưng chạy đi đâu? Chẳng biết! Tại sao chạy? Chẳng hiểu! Thấy bạn bè chạy thì mình cũng chạy. Thế thôi! 

Tôi và Nguyễn Lương Thịnh, biệt hiệu Thịnh nhóc thường đánh bóng bàn với tôi, cùng tôi, tay cầm súng, tay gạt các nhánh sậy che phủ con đường mòn sau núi, chạy hộc tốc như bị cọp đuổi sau lưng. Chúng tôi ra tới Bãi Trước và nhận ra tình trạng náo loạn ngoài đường phố, tiếng đạn nổ tứ tung, dân chúng ai cũng đóng chặt cửa trốn trong nhà. Thật không khác một đám loạn kiêu binh. Tôi thấy ở phía trước mặt khoảng 200 thước, một Thiếu Sinh Quân cũng cầm súng như tôi, bị một người lính, không biết ta hay địch giả dạng, hành hung và giật lấy khẩu súng. Tôi không hiểu vì sao. Hoảng hốt, tôi và Thịnh vội vàng vứt súng và quay ngược chạy trở về trường, mệt và khô cổ đến đắng họng. Chẳng hiểu sao chúng tôi lại có thể chạy liên tục từ trường ra Bãi Trước rồi từ Bãi Trước quay ngược trở lại trường. Về đến gần trường, tôi chợt nhớ ra gia đình người bạn cùng liên lớp là Tô Trích Long Vân. Cha của Vân là Thiếu úy Tô Trích Mầu, một cán bộ của trường và gia đình nằm trong khu gia binh gần trường. Thế là chúng tôi chạy đến gõ cửa xin tạm náu. 

Bố mẹ Vân dọn cơm cho chúng tôi ăn. Mẹ Vân nhìn hai chúng tôi đang ngấu nghiến ngồi ăn với ánh mắt xót thương, trìu mến. Tôi không bao giờ quên ánh mắt của bà. Có lẽ bà đang nghĩ tội nghiệp cho hai đứa chúng tôi. Là những bạn học cùng lớp, Vân còn có gia đình, ruột thịt ở bên cạnh, còn hai đứa chúng tôi thì tứ cố vô thân, không biết sẽ trôi giạt về đâu trong cn biến loạn. Xong bữa cơm, nhìn ra ngoài trời, đêm đen đã trùm kín không gian tự lúc nào. Căn nhà như thu mình trong nỗi lo âu. Và mọi người cứ nhìn nhau, không ai nói một lời. Trong lúc mọi người chìm đắm trong những suy tư riêng, tôi bỗng nghe tiếng loa phóng thanh từ trường vọng lại:

– Các anh Thiếu Sinh Quân lớp lớn xin trở về trường! Chúng em cần các anh lắm! 

Tiếng của em Thiếu Sinh Quân nhỏ vang vọng trong màn đêm, thúc bách não ruột như tiếng chim chíp của đàn gà con mất mẹ làm tôi vô cùng xốn xang, bức xúc. Các em chẳng có nơi nào dung thân, chỉ còn biết trông cậy vào các anh lớn đùm bọc. Là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Thiếu Sinh Quân lớp lớn nhất, tôi nhận ra trách nhiệm của mình. Tôi không thể ngồi yên khi nghĩ đến bạn bè và đàn em đang ở trong trường. Có thể lúc này Bắc quân đã có mặt đâu đó gần Vũng Tàu hay quanh trường, nhưng tiếng các em gọi loa đã giục tôi đứng lên và cương quyết trở lại truờng với các em. Bố Mẹ Vân lo lắng khuyên chúng tôi đổi ý. Tôi cám ơn Bố Mẹ Vân và nói trước khi phóng vào đêm tối:

– Tụi con không thể bỏ các em được! 

Về đến trường, các bạn cùng liên lớp với tôi như Lâm A Sáng, Phạm Ngọc Trình, Nguyễn Văn Minh… cũng đã có mặt. Tôi nhận thấy các bạn đã phá kho vũ khí của trường và đang hì hục khuân vác súng đạn ra các ổ canh gác. Một toán Thiếu Sinh Quân khác thì đang xả thịt một con bò, lui cui nấu ăn và luộc thịt. Thế là tôi vớ lấy một cái nón sắt, chụp một khẩu Carbine, cùng với Thịnh, cũng trang bị y hệt, lúc nào cũng kè kè bên cạnh. Hai đứa chúng tôi tự xem trách nhiệm tổ chức canh gác như nhiệm vụ được anh em giao phó. 

Nhìn lên bầu trời đen thẳm, nỗi cô đơn chợt đến, chợt đi, tôi suy nghĩ lan nan với một bài toán không đáp số. Vì trách nhiệm của anh lớn bảo bọc đàn em, chúng tôi sẳn sàng cho một cuộc chiến. Cuộc chiến đấu này sẽ về đâu? Chúng tôi không biết. Tương quan lực lượng nghiêng lệch ra sao? Chúng tôi chẳng cần bàn. Không ai trong chúng tôi tin là mình sẽ chiến thắng, nhưng chúng tôi vẫn sẽ chiến đấu, ít nhất chúng tôi cũng phải đánh trả đích đáng những ai muốn chiếm lấy ngôi trường này, nơi dung thên cuối cùng của chúng tôi.  Tôi và Thịnh vác súng đi một vòng toàn trường, thăm các chốt và các chòi canh. Các chốt canh gác những hướng xâm nhập chủ yếu đều được trang bị vũ khí cộng đồng với xạ thủ, phụ tá xạ thủ và nhân viên tiếp đạn.

Nhìn những Thiếu Sinh Quân đàn em chững chạc, tự tin bên ổ súng, thành thạo nạp những băng đạn vào ổ súng, sẳn sàng khai hỏa… Tôi bỗng thấy các em chợt lớn lên như những anh hùng Phù Ðổng. Tôi đặt mật khẩu, dặn các chốt canh học thuộc lòng, nếu thấy bóng người di chuyển đến thì hỏi, trả lời không đúng mật khẩu là “quạng” liền lập tức. Toàn trường đặt trong tình trạng báo động và sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. 

Sau khi dạo vài lần, nhận thấy các chốt canh đã được chuẩn bị đạn dược chu đáo, mật khẩu thông thuộc, tất cả mọi người đều được phân phối khẩu phần đầy đủ… (Nhìn các bạn “chén” bữa cơn nửa khê nửa sống một cách ngon lành, tôi có cảm giác bữa cơm hôm nay có lẽ là bữa cơm ngon nhất kể từ ngày nhập trường của các bạn…) Xong công việc, tôi và Thịnh quay lên phòng làm việc của Chỉ Huy Trưởng nghỉ dưỡng sức. Lúc này Thịnh quá mệt, chẳng còn thiết tha gì nữa, cậu ta chui vào một góc phòng và mấy phút sau đã bắt đầu “kéo đờn cò”. Ngoài trời, đêm đen thật thanh vắng, tôi ra ngoài đứng trên ban công, nhìn qua trại gia binh bên cạnh, tự hỏi không biết gia đình Vân đang làm gì, và nghĩ đến ánh mắt yêu thương của Mẹ Vân nhìn hai đứa tôi khi ăn cơm với linh cảm mình sẽ không bao giờ có lại bữa cơm đó. Nhìn qua lầu 2 phòng quân số, tất cả đều yên tĩnh. Tôi biết một số quá mệt, chắc cũng đã “hồn bướm mơ tiên”, tuy nhiên hẳn cũng đã phân công thay nhau ngủ. Những con gà con rối loạn chỉ trong vài tiếng đồng hồ nay đã trở thành những con mãnh hổ đang nằm phục sẵn. Không ai có thể ngờ được sức mạnh của những con mãnh hổ này lợi hại đến nhường nào. 

Tôi quay trở lại phòng Chỉ Huy Trưởng, và ngủ thiếp đi tự lúc nào không hay. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang ở nhà quây quần cùng với cha mẹ và anh em. Hai đứa em gái của tôi, bây giờ mới được 7 và 8 tuổi, đòi tôi dẫn đi chợ. Hàng năm, mỗi lần được về phép thăm nhà, anh em chúng tôi, như đã thành thông lệ, thường được cha mẹ cho tiền. Hai em gái tôi rất thích ăn yaourt. Ở chợ gần nhà có quán của bà Ba, yaourt của bà làm thật là ngon tuyệt. Thế là ba anh em chúng tọi lại đến vòi mẹ xin tiền, rồi mỗi đứa một bên, tôi dắt hai em đi chợ. Ði gần đến chợ thì… một em Thiếu Sinh Quân lay tôi dậy. Tôi mở mắt thấy trời hừng sáng. Em nói:

– Anh Dũng! Có lính đông lắm, đang đi về hướng mình! 

Tôi bật dậy, nhảy ra ban công nhìn về hướng đại lộ độc đạo dẫn vào cổng trường. Trời đang mưa lâm râm, còn mờ mờ tối, cảnh vật rất yên tỉnh. Tôi chẳng nhìn thấy gì, và nghĩ cậu bé lay mình dậy vì hoảng sợ nên tưởng tượng, trông gà hóa cuốc… nên sắp sửa quay lưng trở về chỗ nằm. Bỗng nghe tiếng oang oang của hạ sĩ Hoành mà các anh em đặt biệt hiệu vui là Hoành heo, anh Hoành là hạ sĩ quan cán bộ hỏa đầu vụ. Tôi ngạc nhiên vì sự hiện diện của hạ sĩ Hoành, chẳng biết anh nhập cuộc tự bao giờ. Hạ sĩ Hoành bảo chúng tôi:

– Tụi bay ở đó đi! Chắc lính mình đó! Ðể tao ra coi thử! 

Cùng đi với hạ sĩ Hoành là Nguyễn Văn Thành, liên lớp 12 và một Thiếu Sinh Quân nữa tôi không biết tên, vát súng hướng về phía cổng trường. Ðến lúc đó, tôi mới thấy có một nhóm người lố nhố ở tít đàng xa đang hướng dần về phía chúng tôi. Tôi đứng trên lầu căng mắt theo dõi và dặn anh em sẵn sàng cho mọi bất trắc. Ðột nhiên, tất cả anh em đều nghe tiếng hạ sĩ Hoành la lớn:

– Việt cộng!  Tiếng hô “Việt cộng!” của hạ sĩ Hoành vừa dứt thì lập tức, tất cả hỏa lực đặt sẵn ở lầu 1 phòng quân số, phòng chỉ huy, các khu vực tháp canh nhất tề đồng loạt khai hỏa yểm trợ cho đồng đội chạy trở vào trường. Bắc quân không thể nào ngờ họ “được đón tiếp nồng hậu” như vậy. Suốt khoảng thời gian gần 15 phút, hỏa lực từ trong trường dập ra thậy dữ dội. Bắc quân bị tấn công bất ngờ, chui rúc tìm chỗ tránh đạn, chỉ nghe rời rạc vài tiếng AK bắn trả. Có lẽ là họ nghĩ trường Thiếu Sinh Quân đã di tản và bỏ trống. Những phút giây khai hỏa dữ dội ở cổng trường đã làm cho tất cả lực lượng chiến đấu còn lại của trường tỉnh táo và sẵn sàng ở vị trí ứng phó 5/5. Bên ngoài trường, hẳn là đồng bào đã bừng thức giấc và ngạc nhiên, lo âu, nhìn vào trường Thiếu Sinh Quân. Một buổi sáng họ không bao giờ quên. Trong trường, anh em di chuyển nhộn nhịp hẳn lên. Tôi nhìn thấy Lâm A Sáng và Phạm Ngọc Trình chạy lúp xúp sang ban quân số, đứa vác súng, đứa vác đạn. Ðến ban quân số, tầng trên đã chật ních những xạ thủ, Sáng và Trình phải nằm thủ ở bậc cầu thang, thoắt một cái, khẩu trung liên Bar của Sáng và Trình đã sẵn sàng tham gia cuộc chiến.

TAPS Movie

Súng vẫn còn nổ giòn giã thì Hoàng Văn Mạ đang thủ đại liên trên lầu gào: 

– Ê tụi bay! Bắn cho chính xác và vừa thôi, coi chừng hết đạn nghe! 

Sau tiếng gào lớn của Mạ, như thể một mệnh lệnh, khiến cho tất cả các khẩu súng đều ngừng khạc lửa. Khói súng mịt mù, mùi thuốc súng nồng nặc. Tai tôi lùng bùng vì tiếng đạn nổ tưởng rách màng nhĩ. Xa xa ngoài cổng trường, các bóng Bắc quân biến đi đâu mất. Bên trong sân trường và các ổ chiến đấu thì tĩnh mịch, cái yên tĩnh rùng rợn của một hứa hẹn đổ máu thật dễ sợ mà lần đầu tiên trong đời tôi mới cảm thấy. Tôi đoán Bắc quân thế nào cũng tấn công và chiếm trường. Tôi cũng biết quyết tâm của những tay súng Thiếu Sinh Quân quả cảm, liều lĩnh. Chúng tôi lúc này như đã ở vào thế cận chân tường, chiến đấu trong tâm trạng “điếc không sợ súng” và ý nghĩ “không còn gì để mất!”. 

Bên ngoài, trời đã bắt đầu rạng sáng. Trấn tỉnh đội hình, Bắc quân bắt đầu tấn công chiếm trường. Họ cho một toán quân tiến qua khách sạn đối diện trường ở phía bên kia đường, chiếm giữ các vị trí trên các tầng lầu nhằm giảm lợi thế của chúng tôi khai hỏa từ trên cao, một mặt, họ đưa hỏa lực mạnh như súng cối, súng phóng lựu, B40 để công phá chúng tôi ở mặt đất, vì với vị trí phòng thủ kiên cố, hỏa lực nhẹ của họ không có tác dụng uy hiếp được chúng tôi. 

Cuộc chạm súng đợt hai khởi diễn với quả đạn pháo của Bắc quân rớt vào giữa sân banh sau lưng chúng tôi. Lần đầu tiên bị pháo giữa sân trường, lẽ ra phải nằm xuống tránh miểng đạn, một số các em hoảng sợ chạy tán loạn tìm chỗ che lưng, cũng may là không ai bị trúng thương. Tiếp theo là một phát B40 thổi tung cổng trường, một em Thiếu Sinh Quân, có lẽ thuộc liên lớp 9 hoặc 10, chạy ra kéo cánh cửa đóng lại. Vừa đóng xong, em chạy qua nấp bên bức tường đá phía phòng chỉ huy. Tất cả sự việc xẩy ra không đầy một phút, em vừa kịp lách mình vào thành đá là một quả B40 thứ hai nối tiếp một lần nữa, mở toang cổng trường. Giỡn mặt với tử thần như vậy cũng tạm đủ. Từ giờ phút đó chẳng ai thèm chạy ra đóng cửa nữa. Nhìn rõ mặt đánh nhau mới “sướng!” 

Mặc dù có những lỗi lầm ngu ngơ của lần đầu tiên trong đời đối mặt với kẻ thù như vừa kể, cuộc chạm súng đợt hai đã diễn ra thật dữ dội. Ðối phó với địch quân trên các tầng lầu khách sạn, Phú Văn Ðại cầm khẩu M79 bắn trực xạ vào các ô cửa phòng khách sạn. Chẳng hiểu hắn luyện tập khi nào mà sử dụng vũ khí rất chuyên nghiệp. Bắc quân bị khốn đốn rất nhiều với anh chàng này. 

Ðối phó với toán quân trên bình địa là các khẩu đại liên phí hợp với trung liên, tiểu liên thay phiên bọc lót nhau. Những tràng đạn giòn tan đủ âm độ được tô điểm bởi những phát nổ cầm chừng của các khẩu Garant nhịp nhàng, ăn ý, lâu lâu lại có tiếng dậm đậm đà của cây phóng lựu M2. Tất cả các âm thanh quyện lại như một dàn nhạc giao hưởng điêu luyện và biến thành một lưới đạn chằng chịt phủ xuống đầu đối phương. 

Với quân số ước lượng hơn một tiểu đoàn quân chính quy Bắc Việt, đối phương dồn hỏa lực cố gắng tạo kẽ hở để vượt lên tiến gần chúng tôi, nhưng với vị trí thuận lợi và những tay súng gan lì không hề nao núng trước lằn đạn kẻ thù, các em nhỏ Thiếu Sinh Quân đã buộc Bắc quân phải bó tay, dậm chân tại chỗ suốt hơn một giờ chiến đấu. 

Ðến khoảng 7 giờ sáng, từ bên phòng Chỉ Huy Trưởng, tôi chạy băng qua phòng quân số để theo dõi việc tiếp đạn cho các khẩu đại liên trên đó. Qua hai cánh cổng mở toang, tôi chợt thấy một bộ đội cộng sản đang đặt một khẩu phóng lựu trên vai nhắm thẳng ngay tôi, tôi bật ngay khẩu carbin trên tay hướng về hắn bóp cò. Cùng lúc viên đạn từ nòng súng của hắn cũng xẹt một ánh sáng xanh bay về phía tôi, chệch qua mặt tôi khoảng hai gang tay. Viên đạn trúng đài biểu tượng Nhân – Trí – Dũng, phá tan một mảnh đá lớn. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy hoa mắt, chân và vai tê rần. Tôi khỵu xuống với chân phải bị trúng thương, liếc nhìn xuống áo sơ mi đang mặc loang lổ đầy máu tươi. Một thoáng tích tắc, tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao áo mình đầy những máu mà tôi không cảm thấy một chút gì đau đớn thì tôi ngả ra ngất xỉu. Trong lúc đó, Lâm A Sáng cũng bị một phát đạn vào chân, Lê Văn Tánh chạy lại băng bó cho Sáng, một lúc sau cũng lãnh một viên đạn vào đùi.

Thế là Phạm Ngọc Trình cõng Lâm A Sáng, Nguyễn Văn Minh cõng tôi chạy qua khu Văn Hóa. Nghe kể lại, hai Thiếu Sinh Quân đã dùng tấm drape giường làm võng khiêng tôi đang mê man ra đến bệnh viện Vũng Tàu cách trường vài cây số. 

Các anh em Thiếu Sinh Quân ở lại vẫn tiếp tục chiến đấu mãi cho đến gần 10 giờ sáng. Khi ấy đạn dược đã gần cạn, các bạn mới quyết định gọi loa điều đình ngưng bắn và treo cờ trắng đầu hàng. Một sự đầu hàng trong danh dự, vì các em vẫn đường hoàng làm lễ hạ quốc kỳ và thay vào đó bằng tấm drape trắng dong lên cho phép Bắc quân đặt chân vào ngưỡng cửa ngôi trường yêu dấu. Bắc quân hẳn phải bàng hoàng khi thấy những đối thủ kiêu hùng của họ chỉ là các em Thiếu Sinh Quân tuổi trung bình 15, 16 mà thôi. Họ uất ức, nhưng chắc hẳn họ cũng phải thán phục các tác giả của 6 xác bộ đội đang nằm phơi nắng ngoài cổng trường. 

Theo lời thuật lại của Lâm A Sáng, thì trong hơn 100 Thiếu Sinh Quân tham gia trận đánh, đa số đã leo rào sau trường trốn thoát trước khi Bắc quân xông vào cổng trường, còn lại chỉ có vài chục em nhỏ ở lại với các anh lớn bị thương không thể đào thoát. Tất cả bị Bắc quân bắt giữ đem nhốt qua trại gia binh Cô Giang bên cạnh trường. Trại gia binh Cô Giang vốn là ngõ ngách quen thuộc của các Thiếu Sinh Quân, nên tất cả đã chui rào biến mất, khiêng luôn cả Lê Văn Tánh bị thương nặng ở đùi theo. Nhốt Thiếu Sinh Quân ở trại Cô Giang chẳng khác nào thả hổ về rừng. 

Trở lại phần tôi, tỉnh dậy trong bệnh viện Vũng Tàu thì trời đã tối. Chân và vai đau đớn vì miểng đạn , mặt thì sưng vù không há miệng được do vết thương ở bên má. Cho đến bây giờ, hơn 27 năm sau, ngồi viết đến đoạn này, tôi vẫn không ngăn được niềm xúc động và tự hào cho tình yêu thương nhau hiếm có của những con người Thiếu Sinh Quân. Bệnh viện đầy ngập những người bị thương, nhân viên y tế không đủ để chăm sóc. Tôi bị bỏ nằm trên nền đất lạnh cả đêm, chẳng có y tá nào ngó ngàng tới, chỉ có một em Thiếu Sinh Quân lớp 9 mà mãi đến 27 năm sau tôi mới được biết tên là Nguyễn Kim Hùng, đã ở lại chăm sóc cho tôi. Em thức suốt đêm cạy miệng đổ sữa cho tôi cầm sức và quanh quẩn bên tôi để giúp đỡ. Ðến sáng hôm sau, thì một đám bạn cùng lớp gồm Thịnh nhóc, Thành râu, Thiện huế và vài em nữa tôi không nhớ tên, đến bệnh viện đón tôi đi. Các bạn rất vất vả thay phiên nhau cõng tôi đi mãi đến khi trời chập choạng tối thì chúng tôi mới về đến Bà Rịa. Nghỉ ở Bà Rịa một đêm, sáng hôm sau, chúng tôi lại dìu dắt nhau tìm phương tiện để trở về thành phố. 

Lịch sử đã sang trang. Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Truờng Thiếu Sinh Quân ngày nay đã trở thành trụ sở của một công ty dầu khí ở Vũng Tàu, tuy nhiên, trong lòng người dân xứ biển , hình ảnh hào hùng của những Thiếu Sinh Quân trong trận đánh giữ trường lịch sử mãi mãi sẽ không bao giờ phai nhạt. Tổ Quốc sẽ ghi danh trong quân sử những người con Thiếu Sinh Quân vũ dũng, kiêu hùng đã viết nên thiên anh hùng ca bất khuất cho quân đội…

Colorado 24/10/2002

Nguyễn Anh Dũng & Lâm A Sáng

(Edited by Bắc Phong Sài Gòn/K23 Thủ Đức

Linh khí trời Nam thơm từng trang sử Việt

Quyện trong mây ngào ngạt gió Sài Sơn
Sóng nước reo vui tăm tắp Bạch Đằng Giang

Lời “Sát Đát” vẫn nguyên giòng thác lớn

“Phá cường địch” thần uy Trần Quốc Toản

Lòng vẫn lòng Phù Đổng ngất trời Nam

Vận nước điêu linh, rực sáng chí kiêu hùng

Tuổi niên thiếu nghìn năm sau vẫn thế

Vẫn khí phách của dời non và lấp bể

Thiếu Sinh Quân đất Việt vẫn là đây

Vẫn một lòng son bát ngát trời mây

Vẫn hào khí của muôn xưa dồn lại

Bạt vía quân thù, bớ lòng lang sói

Ôi Việt Nam! Tuổi trẻ mấy ngàn năm..

Đời thủy thủ

vnthuquan.org

Vũ Thất

Post by Sơn râu 16 Oct 2026

Bước vào phòng ăn, việc đầu tiên là tôi hướng mắt về chiếc ghế dành cho tên Mỹ. Thật dễ chịu khi không thấy mặt hắn. Vài sĩ quan đã hiện diện. Nơi Võ Bằng ngồi, phần cơm đã được dọn sẵn.

– “Tôi cần về buồng…”

Miệng nói, chân bước vội về khung cửa. Tiếng Võ Bằng đuổi theo:

– “Nhớ có mặt trước 10 phút.”

Tôi kéo kín màn cửa rồi đi thẳng vào buồng vệ sinh. Tôi thấm nước một góc khăn, lau mặt, lau cổ, lau tay. Nước thật mát giúp da tôi trở lại mịn màng và thấy tỉnh người. Khi tôi đang o bế mái tóc, tiếng còi vang lên ba hồi te tít. Tôi nhìn đồng hồ: 11:45. Như vậy còi báo đổi phiên hải hành trước 15 phút. Tôi cũng còn 15 phút mới tới phiên… cơm trưa với Hạm Trưởng. Đó là cả một miễn cưỡng, hoàn toàn ngoài mong muốn. Nhưng tự do thì vẫn còn 5 phút nữa.

Tôi ngả lưng lên giường, hít thở dài hơi. Đó là cách tôi lấy lại sức sau một ngày học hành mệt mỏi. Nhưng ở trên tàu này, mệt mỏi đã là may mắn. Suốt đêm qua tôi đã ngất ngư. Rồi sáng nay, mới qua vài giờ mà sức đã đuối thì lấy đâu sáng suốt mà dối trá như một trước sau! Tôi không hiểu sao lại cứ lo lo khi bữa cơm vắng mặt Võ Bằng. Bắt chước anh chàng, tôi tự hỏi ‘vì sao’ nhưng không tìm thấy câu trả lời. Đúng ra, việc Võ Bằng không hiện diện tôi mừng mới phải vì sẽ khỏi bị tấn công mặt tình cảm trong nhiều mặt khác sắp bị tấn công tập thể.

Tôi ôn lại những gì tôi đã tiết lộ từ khi xuống tàu. Tôi nghĩ là tôi đã quyết định đúng khi không nghe lời Hưng nói dối về lý lịch. Thân thế ra sao cứ nói đúng vậy, không sợ gì sơ hở. Khi quả bom nổ, tôi đã cao bay xa chạy. Tên tuổi địa chỉ đều giả lấy gì truy tầm!

Nhắm chừng 5 phút đã trôi qua, tôi ngồi bật dậy, bước ra phòng ăn. Võ Bằng còn đó hẳn muốn yên trí là tôi không vắng mặt. Anh chàng lịch sự kéo ghế mời tôi ngồi. Không thể làm khác hơn tôi ‘cám ơn’ rồi nhìn quanh nói ‘xin chào’. Mọi người đáp trả vui vẻ. Võ Bằng quay sang nói nhỏ với tôi:

– “Chịu khó ăn cơm… bình dân vài buổi. Về Sài Gòn, tôi sẽ đền bù ‘trừ hao’ ở các nhà hàng ngon lành.”

Phớt lờ cái liếc sắc bén của tôi, anh chàng uống cạn ly trà đá rồi rời bàn. Phút chốc, tôi thấy lúng túng, ngượng ngùng. Tôi nhìn anh chiêu đãi dọn dẹp phần ăn của Võ Bằng và bày biện các phần ăn mới. Tôi thích thú theo dõi cử động nhanh nhẹn khéo léo của anh. Tôi đâm mê cái chén trên cái dĩa màu trắng in hình mỏ neo màu xanh, kèm một bên là chiếc muỗng bạc và đôi đũa ngà, một bên là khăn ăn vải trắng. Lối trình bày gợi tôi nhớ cách nay nửa năm, Hưng đưa tôi đi ăn ở nhà hàng nổi, nơi một năm trước đó đặc công nội thành đã đánh bom làm chết và bị thương hàng chục tên Mỹ. Cũng chén dĩa trắng, cũng khăn ăn trắng. Chỉ có chút khác biệt là hình chiếc mỏ neo được thay bằng chữ Mỹ Cảnh. Bộ dạng anh bước khệnh khạng, cái cách anh bưng hai tô canh, hai dĩa món ăn tôi thấy không có gì bất thường để bị chọc quê là phi hành gia…

Tên Mỹ vừa ngồi lên ghế đối diện mỉm cười chào. Dù tia nhìn của hắn tỏ vẻ thân ái, dù đêm qua hắn không giở trò nhưng tôi vẫn mím môi đáp lễ. Tôi còn phải sống qua đêm nay nữa. Liệu đêm nay hắn có giở trò? Các sĩ quan cùng dòng máu Việt sẽ cứu tôi hay sẽ hùa theo để tận hưởng? Tôi rùng mình và thấy giận Hưng. Một mặt anh nói Mỹ Ngụy tàn ác, một mặt anh đẩy tôi vào tay Mỹ Ngụy! Tôi nhắm mắt xua đi ý nghĩ đen tối. Chợt tôi nghe tên Mỹ gọi thẳng tên tôi:

– “Miss Phượng, cô mạnh giỏi?”

Giọng của hắn cứng, thô nhưng phát rõ tiếng Việt. Tôi sượng sùng không biết xưng hô ra sao! Phải chi hắn hỏi bằng tiếng Anh thì khỏe biết mấy. Địch hay bạn cũng cứ là ‘you and I’. Trả lời bằng tiếng Việt sẽ phải gọi bằng ‘anh hay ông’ thì đều tỏ ra thân mật hoặc tôn kính. Tôi chợt có ý nghĩ chọc ghẹo hắn. Tôi đáp:

– “Mạnh nhưng không giỏi. Còn mi?”

– “Còn ‘me’? Tôi không hiểu!” Tên Mỹ ngẩn ngơ.

Trung úy Lê Giáp Thân ngồi cạnh hắn, bật cười:

– “Không phải ‘M and E’ tiếng Mỹ mà là ‘M and I’ tiếng Việt, có nghĩa là … mày!”

– “Mày?” Tên Mỹ tỏ vẻ ngơ ngác.

– “‘Mày’ có nghĩa là ‘you’. ‘Còn mi’ tức là ‘And you?’”

Tên Mỹ gục gặc đầu, khoái chí đáp trả:

– “Cám ơn cô Phượng, me good.”

Tôi cười, nói với Trung úy Thân:

– “Cám ơn Trung úy giải thích.”

Tiếng hô ‘nghiêm’ từ cuối bàn. Tất cả đồng loạt đứng lên. Tôi miễn cưỡng làm theo. Hạm Trưởng tiến đến chiếc ghế dành cho ông, chiếc ghế cùng mẫu có tay tựa, cùng màu xám nhạt nhưng có phần rộng lớn hơn. Ông nhìn qua một lượt, vui vẻ nói:

– “Mời ngồi!”

Câu đầu tiên sau khi ông an vị dành cho tôi:

– “Ông Hạm Phó lo cho cô đàng hoàng chứ? Có gì khiếu nại không?”

Giọng nói thân tình, thái độ tích cực, tư thế quyền uy khiến tôi lễ độ đáp:

– “Thưa Thiếu tá, hơn cả mong đợi.”

Tôi nói mà kêu khổ thầm. Khi nhận lời Hưng mang bom xuống tàu tôi không mảy may nghĩ mình sẽ lâm vào tình cảnh hôm nay. Theo dự trù, tôi ở khu tạm trú, ăn uống tự túc. Thế mà tôi lại đang được đối đãi như một thượng khách, được xếp ngồi ở vị trí quan trọng thứ nhì sau hạm trưởng. Tên Mỹ cũng xếp hạng sau tôi. Tôi đã nhẹ dạ nghe Hưng để bây giờ ngỡ ngàng, không biết ứng xử sao cho phải. Nội cách xưng hô cũng đầy phiền toái. Theo những gì được học tập, đây là những kẻ xâm lược, bán nước. Nhưng theo lễ nghĩa, tôi phải dạ thưa với chủ nhà, phải nhã nhặn với những người đáng tuổi làm anh. Bằng đang đi phiên nên ngồi sát bên mặt tôi là Trung úy Trần Văn Bạch. Tôi cúi gầm mặt tránh hàng chục cặp mắt đang hướng vào. Tiếng trầm ấm của Hạm Trưởng:

– “Cô là khách đầu tiên của chiến hạm, lẽ ra được thết đãi linh đình nhưng nhằm cuối công tác nên… có gì ăn nấy. Hy vọng cô có cùng chủ trương như tôi: Sống không phải để ăn!”

– “Cùng chủ trương, thưa Thiếu tá!”

– “Sĩ quan Ẩm thực đọc thực đơn hôm nay.”

Thiếu úy Hoàng Văn đứng lên:

– “Thưa Hạm Trưởng và quý vị, thực đơn hôm nay gồm các món sau:

Cơm trắng, cá chiên, thịt bò xào cải, tôm rim, canh rau muống. Hết.”

Hạm Trưởng lại nhìn tôi như chờ tôi cho ý kiến. Tôi thấy thiếu món tráng miệng không thể thiếu đối với tôi:

– “Tôi xin đóng góp món tráng miệng. Xin phép Thiếu tá.”

Tôi đứng lên đi vào buồng lấy hộp bánh LU đưa cho anh chiêu đãi rồi trở về ghế. Hạm Trưởng quét mắt quanh bàn, nói:

– “Nào! Mời cầm đũa.”

Tiếng nói từ quanh bàn:

– “Xin mời Hạm Trưởng.”

Ông dùng muỗng và đũa tách cá chiên thành từng miếng nhỏ. Tôi vừa cầm đũa vừa lén nhìn tên Mỹ. Cái cách hắn cầm tỏ ra hắn đã được huấn luyện trước khi sang Việt Nam tuy nhiên chỉ đủ để các ngón tay sồ sề cầm vững được đôi đũa ốm yếu. Khi tôi nâng chén và cơm vào miệng hắn còn lọng cọng dùng đũa ‘múc’ cơm.

Hạm Trưởng đang chậm rãi nhai hỗn hợp cải xào thịt bò, thấy tôi ngạc nhiên nhìn tên Mỹ gắp miếng cá chiên chấm nước mắm, ông nói:

– “Ban đầu Mister Ward chê nước mắm hôi nhưng giờ thì chịu là thơm ngon. Bữa nào không có nước mắm là hỏi!”

Tên Mỹ mỉm cười gật đầu tỏ ra hiểu câu nói. Tôi thì lại không hiểu chính tôi. Chống Mỹ nhưng lại thích thức ăn Mỹ. Nói cho đúng thì chắc vì lạ miệng. Lần duy nhất tôi ăn ration C cách nay vài tháng khi tôi về nhà nghỉ hè. Ba má tôi thấy bán ở chợ trời, tò mò mua ăn thử và tôi nhất định chọn ration C mang theo tàu thay cho cơm chiên ba má Hưng gợi ý. Ration C bán rất rẻ ở chợ trời Quy Nhơn.

– “Cô Phượng vẫn thường đi quá giang?”

– “Thưa, đây là lần đầu!”

– “Cảm thấy ra sao?”

Tôi vừa nhai vừa ngẫm nghĩ. Cảm thấy ra sao ư? Thì còn ra sao nữa! Một mình tôi giữa sóng nước mông mênh. Quanh tôi toàn là sắt thép, súng to súng nhỏ và hàng trăm lính nổi danh gian ác. Nhưng nếu thú nhận rằng đang lo sợ thì có khác gì thú nhận đang làm chuyện bất chính! Tôi uống ngụm nước rồi trả lời:

– “Tôi… tôi thấy thật thích thú. Tôi yêu bài Hoa Biển của Anh Thy nên từng mơ ước một chuyến ra khơi. Nay ước mơ đã đạt.”

Trung úy Bạch lên tiếng:

– “Cô Phượng yêu Hoa Biển thì hẳn cũng yêu… lính biển?”

Tôi thấy cần bịa chuyện cho xuôi chuyện:

– “Trước đây thì có…”

– “Còn bây giờ?”

Tôi nghiêng mặt trả lời Thiếu úy Tiến:

– “Bây giờ tôi đang ở trên chiến hạm.”

Thiếu úy Tiến phản đối:

– “Cô Phượng trả lời huề vốn!”

Tôi cười, giả lả:

– “Chuyện thì dài mà tôi cũng không muốn gợi lại.”

Thiếu úy Hoàng Văn chen lời:

– “Đồng ý là không nên gợi lại. Chỉ cần biết hiện tại cô đang… độc thân là đủ vui rồi!”

Hạm Trưởng vừa cười vừa gắp con tôm rim bỏ vào chén tôi:

– “Con tôm này xuất xứ từ miền Tây. Vùng quê hương của cô phải không?”

– “Dạ phải.”

– “Cô ra Quy Nhơn hai tuần, đã đi những đâu?”

– “Ưu tiên là thăm viếng quê nhà của vua Quang Trung.”

– “Cô đã đến chưa? Tôi nghe nói người dân Bình Định chung sức xây Tây Sơn Điện để thờ ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Tôi từng muốn đến nhưng đường đi khá xa mà cũng không được an ninh.”

– “Tôi có đến viếng Tây Sơn Điện. Điện thờ có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung Hoàng Đế. Gian bên phải thờ Thái Đức Hoàng Đế tức Nguyễn Nhạc. Gian bên trái thờ Đông Định Vương tức Nguyễn Lữ. Dọc theo hai vách điện là án thờ tổ tiên nhà Tây Sơn và các quan văn thần võ tướng. Trong cùng có Đông phòng, Tây phòng là nơi gác trống chiêng. Càng nhìn càng thấy uy nghi xúc động. Ngoài khuôn viên điện thờ có cây me trên 300 tuổi và giếng nước cùng thời.”

– “Cô có nghe tin tức gì về Lăng mộ Quang Trung? Nghe đồn thì có nhưng chưa tìm thấy.”

– “Đúng vậy. Các hậu duệ vẫn đang khảo sát truy tầm.”

Chúng tôi tiếp tục ăn uống. Tôi vừa nhai vừa e sợ bị hỏi mà nghĩ mãi không tìm được câu hỏi tương xứng với chức vụ Hạm Trưởng. Ông lại lên tiếng:

– “Cô còn thăm viếng những nơi nào?”

– “Tháp Đôi của Chiêm Thành, Bán đảo Phương Mai, Mộ Hàn Mặc Tử.”

Thiếu úy Nguyễn Ấn ngâm nga:

– “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.”

Hạm Trưởng gõ đũa lạch cạch vào chén:

– “Các sĩ quan nghe cho rõ câu trả lời của cô Phượng. Ngày mai là ngày nào?”

Tôi lúng túng tuôn ra lời thật:

– “Chúng tôi định sau khi tôi ra trường.”

Thiếu úy Hoàng Văn nóng nảy kêu lên:

– “Hóa ra cô Phượng không hẳn còn… độc thân! Vậy chừng nào ra trường?”

– “Hai năm nữa!”

– “Còn độc thân những hai năm nữa.” Hoàng Văn cất tiếng ca. “Đời còn nhiều bâng khuâng.”

– “Nghe giọng nói của cô, tôi đoán cô cùng miền với Hạm Phó. Nhưng chắc không cùng dân Châu Đốc?”

Tôi mừng nghe Hạm Trưởng đổi đề tài. Tôi đáp nhanh:

– “Vĩnh Long.”

– “Học trường Tống Phước Hiệp?”

– “Dạ phải”

– “Nơi sinh?”

Tôi khoái lối hỏi của Hạm Trưởng. Không phải mất công đắn đo tìm lời đáp ứng. Tôi đáp không do dự:

– “Nha Mân.”

Hạm Trưởng đập nắm tay xuống bàn một cách hứng thú:

– “Tôi đoán đúng! Cô phải sinh ra ở Nha Mân chớ không nơi nào khác!”

Tôi nhìn mọi người cũng ngẩn ngơ như tôi. Thiếu úy Hoàng Văn lại lên tiếng:

– “Tôi đồng ý với Hạm Trưởng.”

Các sĩ quan ngưng ăn, lao nhao. Thiếu úy Nguyễn Ấn nêu thắc mắc:

– “Thưa Hạm Trưởng, dựa vào đâu Hạm Trưởng cho rằng cô Phượng sinh ở Nha Mân? Mà Nha Mân là nơi nào tôi chưa từng nghe danh!”

– “Nha Mân có một thời thuộc tỉnh Vĩnh Long. Các cô lớn lên ở Nha Mân thường theo học Trung học Tống Phước Hiệp. Năm 1960, tôi đổi về Giang Đoàn 23 Xung Phong đồn trú Vĩnh Long. Suốt hai năm, tôi đeo đuổi một nữ sinh tuyệt đẹp. Cô bảo quê cô ở Nha Mân. Nha Mân thì Giang đoàn chẳng xa lạ gì. Thỉnh thoảng tôi chỉ huy năm ba giang đỉnh vào kinh Nha Mân yểm trợ đồn bót, nên khi biết sinh quán của ‘người yêu’, tôi cho giang đỉnh ghé chợ vừa để mua lương thực vừa dò la hỏi han. Ối chao, các cô ở đó đẹp sao là đẹp. Thành ra khi cô Phượng nói học Tống Phước Hiệp, tôi nghĩ ngay cô hẳn có gốc Nha Mân!”

– “Nhưng đâu phải người nào đẹp cũng đều sinh ra ở Nha Mân!” Trung úy Thạch phản đối.

– “Đồng ý. Nhưng phải là người từng đeo đuổi người đẹp Tống Phước Hiệp mới có linh cảm như tôi.”

– “Vẫn chưa ăn nhậu vào đâu, thưa Hạm Trưởng.”

– “Ăn nhậu là thế này! Có một lần ghé chợ Nha Mân ăn nhậu cùng các thẩm quyền xã ấp, tôi tỏ ý ngạc nhiên sao các cô gái Nha Mân đều có nhan sắc khuynh nước khuynh thành. Một chức sắc kể chuyện, khi chúa Nguyễn Ánh thua quân Tây Sơn ở trận Rạch Gầm, ông đưa cung tần mỹ nữ đến ẩn trú ở Nha Mân. Không lâu sau đó, Nguyễn Huệ tìm ra và truy đuổi. Tình thế khẩn cấp, Nguyễn Ánh một mình chạy thoát thân, bỏ lại dàn mỹ nữ hoa nhường nguyệt thẹn. Và dần dần họ trở thành là vợ là mẹ dân Nha Mân. Điều lạ lùng là các cô gái sinh ra đều giữ nguyên nhan sắc đến độ đã thành câu ca dao ‘Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân’. Thế thì, trước nhan sắc của cô Phượng, sinh quán Nha Mân, các quan ta kết luận thế nào?

Trung úy Thạch to tiếng nhất:

– “Cô Phượng hẳn là hậu duệ của vua Gia Long.”

Tôi thầm phục tài luận xét của Hạm Trưởng. Có lần mẹ tôi kể về gia thế của mình. Bà cố của mẹ tôi là một cung tần của vua Gia Long. Tuy vậy, tôi nửa nhận nửa chối:

– “Nghe như thiệt!”

Hạm trưởng quét mắt hỏi:

– “Có ai có ý kiến gì khác chăng?”

Tên Mỹ lắc đầu trước tiên. Tội nghiệp, mãi đến giờ hắn mới có dịp phát biểu bằng cử chỉ! Trung úy Bạch, đẹp trai nhất đám, gật gù nói:

– “Căn cứ câu ca dao, cô Phượng khó chối cãi mình chính là bằng chứng… lịch sử!”

Tất cả cười rộ. Thiếu úy Văn bồi thêm:

– “Thưa công chúa điện hạ!” Anh chàng nói xong đứng lên chắp tay cúi đầu.

Tôi nghe máu chạy lên mặt nóng bừng. Giọng Hạm Trưởng đều đều, thân tình:

– “Phải nói tâm tính cô thật thuần lương. Là hậu duệ của Gia Long mà vẫn ngưỡng mộ Quang Trung. Có thể nhờ tấm lòng thuần lương đó mà Nguyễn Huệ cho cô cơ hội quá giang chiến hạm này.”

Thấy tôi tỏ ra không hiểu, ông xoay người chỉ vào chiếc huy hiệu treo trên vách:

– “Đây là huy hiệu của chiến hạm, mang tên trận Đống Đa lẫy lừng của Quang Trung.”

Tôi dở khóc dở cười trước nhận xét của Hạm Trưởng. Việc tôi đi quá giang gần như là một bắt buộc chớ có ‘ăn nhậu’ gì với mối thù giữa hai vị vua. Cũng chẳng là sứ giả hòa giải gì hết! Còn tâm tính thuần lương, chỉ đúng trước khi tôi gặp Hưng. Tôi đã từng cực lực phản đối khi ba tôi mua vịt sống về tự cắt cổ lấy máu làm tiết canh. Nhưng giờ đây, thuần lương gì mà đem bom cho nổ giết người. Tôi chua xót tự hỏi vì sao mà bỗng dưng quay đầu 180 độ. Vì đâu nên nỗi!

Tiếng của Trung úy Bạch:

– “Thưa Hạm Trưởng, chuyện tình Tống Phước Hiệp, rốt cuộc giai nhân trở thành Hạm Trưởng phu nhân?”

– “Trung úy đã yêu ai chưa?”

– “Thưa, đang yêu.”

– “Đeo đuổi mấy năm rồi?”

– “Mấy tháng nay.”

– “Cố gắng kiên trì đeo đuổi hai năm như tôi thì cô ta sẽ thành Bạch phu nhân!”

Chúng tôi cười phá lên. Nhìn nụ cười hả hê của Hạm Trưởng mà lòng tôi chùng xuống. Vợ của ông không chừng có dây mơ rễ má với tôi. Tôi cúi nhìn mặt bàn trắng tinh tưởng như mọi toan tính đen tối trong đầu đã xóa sạch. Giọng Hạm Trưởng thật hiền hòa:

– “Kỳ này về kể chuyện gặp cô Phượng, hẳn nhà tôi mừng lắm! Thế nào bà ấy cũng tìm tận nhà để hàn huyên.”

Gặp người cùng hoàng tộc, còn gì vui hơn nhưng địa chỉ trong giấy phép quá giang là giả, tìm sao được mà tìm. Nghẹn ngào, tôi chỉ biết giương mắt nhìn ông. Bất chợt mắt tôi dừng ở một huy hiệu màu vàng gắn bên trên bảng tên Bùi Việt Quang ở ngực áo. Đó là một vành tròn bằng kim loại ôm lấy ngôi sao năm cánh với mấy chữ không trông rõ. Tôi chộp cơ hội đổi đề tài:

– “Ồ, chiếc huy hiệu trông đẹp quá!”

Theo tia mắt tôi, Hạm Trưởng cúi nhìn rồi ngẩng lên mỉm cười:

– “Cô đã từng uống nước mía ở đường Pasteur?”

Ngạc nhiên trước câu hỏi lạc đề nhưng tôi vẫn thật lòng trả lời:

– “Đó là địa điểm ưu tiên khi đi phố.”

– “Cái huy hiệu tôi đang đeo, Hải Quân gọi là… bánh xe nước mía! Cô nhìn kỹ xem có giống không?”

Tôi chồm người nhìn chăm chăm rồi tưởng tượng hình ảnh bánh xe quay ép cây mía. Tôi nói:

– “Chỉ giông giống thôi. Huy hiệu thật thẩm mỹ và trông như vàng thiệt. Nhất là ngôi sao năm cánh thật nổi!”

– “Chính danh, đó là huy hiệu Hạm trưởng. Ngôi sao tượng trưng cho sao Bắc Đẩu mang ý nghĩa chỉ dẫn hướng đi. Còn tay lái tượng trưng cho chiến hạm. Nói rõ hơn đó là biểu tượng uy quyền của người chỉ huy chiến hạm.”

– “Thưa Thiếu tá, nửa phần dưới vành tròn khắc những chữ gì?”

– “À, đó là Danh Dự, Kỷ Luật, Tài Đức. Một nhắc nhở, một lời thề. Người mang huy hiệu này phải luôn luôn tôn trọng danh dự, gìn giữ kỷ luật và phát huy tài đức.”

– “Một huy hiệu thật ý nghĩa.” Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu biết.

– “Huy hiệu của Hải Quân Việt Nam dựa trên nền tảng đạo đức.” Hạm Trưởng tiếp. “Huy hiệu của Mỹ dựa trên uy quyền. Thay chỗ Danh Dự Kỷ Luật Tài Đức là hàng chữ Latin “Magister Post Deum”, có nghĩa “Chúa tể sau Thượng Đế”. Dịch nôm na là trên có Trời, dưới có Hạm trưởng.”

– “Như vậy có nghĩa là trên thế gian này uy quyền của Hạm Trưởng là trùm thiên hạ!” Thiếu úy Vương Văn Tiến nói.

– “Không hẳn thế!”, Hạm Trưởng lắc đầu. “Chỉ trùm ngoài biển thôi!”

Tôi đang hài lòng với sự khiêm tốn của ông thì lại nghe ông tự đính chính:

– “Tôi nói thế cũng còn quá tự tôn. Đúng ra là chỉ riêng trên một chiến hạm. Còn uy quyền ngoài biển, thì phải dành cho Ngài Đại Hải Long Vương. Cô Phượng có nghe danh Ngài Đại Hải Long Vương?”

– “Có biết qua khi đọc Tây Du Ký!”

– “Chắc cô khó mà tin, chiến hạm này đặc biệt có duyên được Ngài để mắt tới.”

Mọi người gật đầu tỏ vẻ tán thành làm tôi càng nôn nóng muốn nghe tự sự nhưng ông thản nhiên bỏ dở:

– “Trở lại huy hiệu Hạm Trưởng, cần nói rõ thêm để trường hợp cô Phượng muốn làm tài công… lái hạm trưởng thì biết phân biệt. Ông Hải Quân nào đang làm hạm trưởng – thường là xa nhà – thì huy hiệu này đeo bên ngực áo phải. Còn ông nào từng là hạm trưởng – thường như công chức – thì đeo bên ngực áo trái.”

Thấy sự việc chẳng ăn nhậu gì đến mình, tôi nhắc:

– “Thiếu tá chưa nói rõ trường hợp đặc biệt nào chiến hạm được Ngài Đại Hải Long Vương để mắt tới…”

– “Muốn rõ chuyện thì cô buộc phải rời bàn, là điều tôi muốn tránh lúc đang ăn. Hẹn đến trước cơm tối.”

Tôi cụt hứng, lặng lẽ và cơm. Một lúc, Hạm Trưởng buông đũa, nói với tên Mỹ:

– “Hê Rick. Tàu chạy chậm quá. Có phim gì xem cho qua thì giờ?”

– “Có movie Mission Impossible, phim mới, coi hay lắm.”

– “Cái tựa nghe hấp dẫn đấy. Vui lòng chiếu cho mọi người cùng xem, được chứ Rick?”

– “Aye aye, Sir.”

Tên Mỹ lanh lẹ đứng lên bước vào buồng. Tôi hỏi Trung úy Bạch:

– “Aye aye nghĩa là gì vậy?”

– “À, đó là đặc ngữ của Hải Quân Mỹ, dành cho cấp dưới trả lời cấp trên. Có nghĩa ‘Tuân lệnh, thưa ngài’. Trường hợp này, có thể hiểu: ‘Có ngay, thưa Hạm Trưởng.’”

Tôi ngạc nhiên thốt lên:

– “Có thật ‘Aye aye’ mang ý tuân lệnh không đó? Hắn là Mỹ mà!”

– “Mỹ thì mặc xác Mỹ, bộ cô không thấy hắn răm rắp tuân lệnh Hạm Trưởng đó sao! ‘Magister Post Deum’ mà!”

Tuy đã tận mắt chứng kiến, tôi vẫn bán tính bán nghi, nên hỏi:

– “Trung úy xưng hô với hắn thế nào?”

– “Thì lịch sự gọi Mister Ward, rồi dùng ‘you’ mang nghĩa tiếng ‘mi’ của cô!”

– “Chí lý!”

Tôi thấy nhẹ người với cách xưng hô mới mẻ này. Tôi sẽ trực diện với tên Mỹ, muốn đích thân hỏi hắn mang xác đến miền Nam để làm gì!

Anh chiêu đãi nhanh nhẹn dọn dẹp bàn ăn. Tên Mỹ đặt máy ở góc bàn nơi Hạm Trưởng ngồi chiếu thẳng vào vách. Các sĩ quan cuối bàn nhấc ghế sang hai bên.

Phim kể về một điệp vụ của Mỹ gồm một nữ bốn nam có nhiệm vụ đến Santa Costa để tịch thu hai đầu đạn nguyên tử do kẻ thù của Mỹ cung cấp. Hai đầu đạn đó có thể dùng để cho nổ trên đất Mỹ. Cuộc đột nhập rất nguy hiểm hồi hộp. Cô điệp viên rất bạo dạn trong nhiệm vụ giao phó, được sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng của bốn đồng nghiệp. Còn tôi, một tay mơ nhập nghề, nhiệm vụ tôi cũng thật hồi hộp hiểm nguy nhưng lại hoạt động đơn độc, xoay sở một mình. Vừa xem phim vừa thấy mình quá liều mạng…

Được chừng nửa phim, đang lúc nữ điệp viên Barbara Bain dùng mỹ nhân kế che mắt tên tướng địch để đồng nghiệp đột nhập kho chứa hai quả bom thì tiếng chuông nội thoại chợt reo vang làm tôi giật nẩy mình.

Thiếu úy Văn nhấc máy gắn trên vách:

– “Thiếu úy Văn tôi nghe.”

Một thoáng, anh hướng về Hạm trưởng:

– “Thưa Hạm Trưởng, Hạm Phó xin gặp Hạm Trưởng.”

Ông bước đến tiếp nhận ống nghe. Chỉ vài giây sau ông reo to:

– “Tốt quá! Hạm Phó cho lái vào Cam Ranh. Khoảng bao lâu nữa tới cửa vịnh?”

Hạm Trưởng lắng nghe rồi gác máy, trở về bàn nói với tên Mỹ:

– “Cơ phận của máy bơm giảm nhiệt ‘you’ đặt hàng, đã có sẵn ở kho tiếp liệu. Chúng ta ghé vào lấy. Thay cái mới, chiến hạm sẽ… bay về Sài Gòn. Cám ơn đã trợ giúp.”

– “Không có chi.” Tên Mỹ nói tiếng Việt ngọt xớt.

– “Còn một giờ nữa mới tới cửa vịnh, chúng ta có thể xem đến hết tuồng.” Hạm Trưởng quay sang tôi. “Cô Phượng đã đến Cam Ranh bao giờ chưa?”

– “Thưa chưa!”

– “Đến viếng Cam Ranh thường là bằng đường bộ. Còn bằng đường biển thì nghìn năm một thuở. Chính vì vậy tôi đành cho phép cô lên Đài Chỉ Huy chiêm ngưỡng quang cảnh từ biển vào vịnh để chuyến đi của cô thêm thi vị!”

Mấy từ ‘lên đài chỉ huy’ không hiểu sao khiến toàn thân tôi gần như run rẩy. Tôi lắp bắp, suýt nữa xưng tên thật:

– “Phượng chân thành cảm tạ Hạm Trưởng!”

Tôi cũng nhận ra mình quýnh quáng gọi ông bằng chức vụ nhưng ông chỉ mỉm cười cảm thông. Tôi tiếp tục nhìn lên màn ảnh mà không hiểu gì nữa. Đầu óc tôi cứ mường tượng chiếc cầu thang dẫn lên thượng tầng kiến trúc và lẩn quẩn nghĩ cách đưa quả bom lên đó. Tôi chợt hiểu ra nguồn cơn xúc động. Điều tôi thầm ao ước bất ngờ ập đến. Thiếu tá Bùi Việt Quang, Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Đống Đa 007 đâu biết rằng việc cho phép tôi lên đài chỉ huy là ông tự đào mồ chôn chính ông và bộ chỉ huy của mình…

Đâu chỉ là một cái tên

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on July 24th, 2020

Post by Sơn râu 16 Oct 2026

Chữ rằng: ‘Vật cố hữu hình, hình cố hữu danh’, có nghĩa là: ‘Vật thì có hình, hình thì có tên gọi’. Tên là duy nhứt dành cho chỉ một người nên nó quan trọng lắm đó nhe bà con!

Ở Mỹ hoặc Úc, tên đi trước họ đi sau. Chen chính giữa là tên lót.

Thân mật thì gọi tên. Quan cách thì gọi họ. Còn chữ lót thì ít ai xài.

Ðó là lúc còn sống, còn ăn còn nhậu; chớ lúc lên bàn thờ thì trong điếu văn tiễn biệt người ta mới dùng đầy đủ họ tên và chữ lót! Chẳng qua nếu sơ sài vắn tắt quá, những hồn ma, bóng quế khác trùng tên trùng họ, dẫu khác chữ lót, nó cũng đòi lên bàn thờ để ngắm gà khỏa thân thì lại giành nhau lôi thôi phiền phức lắm!

***

Thủ tướng Úc có cái tên lót là John. Nên để cúng cơm, tên của Thủ tướng Úc thứ 30 là: ‘Scott John Morrison’. Tổng thống Mỹ cũng có cái tên lót là John nữa. Thế nên tên để cúng cơm của Tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 là: ‘Donald John Trump’.

Chắc vì cùng tên lót là John; nên hai ông thần nầy thích nhau quá thể. Gặp nhau là bắn đại bác ầm ầm (nhưng hụt) rồi quốc yến, sơn hào hải vị không hè, dù già trẻ cách nhau tới 21 năm.

Tuy nhiên có một số nước Châu Á (trong đó có nước ta), họ trước tên sau. Như Chủ tịch Tàu Cộng Tập Cận Bình là họ Tập tên Cận Bình. Hoặc Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc là họ Nguyễn tên Xuân Phúc.

Mà tên của Thủ tướng CS nầy cũng gây khó dễ cho Bộ Ngoại Giao Mỹ vì phải kiếm cách nào để Tổng thống phát âm cho nó trúng! Kẻo dân Mỹ tưởng Tổng thống của mình chửi Thủ tướng CS Việt Nam. Vậy là các nhà ‘phát âm học’ bèn phiên âm chữ Phúc thành ‘Fook’ trên máy nhắc tuồng cho Tổng thống Mỹ đọc diễn văn cho nó đúng.

***

Phải chi ông giảng viên dạy Toán của trường Cao đẳng Cộng đồng Laney, thành phố Peralta, California, Hoa Kỳ biết cách phát âm chữ Phúc theo kiểu ‘Fook’ nầy thì đâu xảy ra nhiều lôi thôi rắc rối đến nỗi nhức cả cái đầu!

Chẳng qua là: Laney College có hơn 17,000 sinh viên, gần 30%  đến từ Châu Á. Vì cơn đại dịch Covid-19, các lớp học phải dạy trực tuyến trên mạng. Ngày thứ Hai, giảng viên môn Toán Matthew Hubbard đã nằng nặc kêu nữ sinh viên năm thứ nhứt ‘Phuc Bui Diem Nguyen’ phải “Mỹ hóa” tên của em. Vì cứ giữ nguyên cái tên của cha sanh mẹ đẻ khi gọi đến tên em, thầy nghe như là tiếng chửi thề thô tục trong ngôn ngữ của thầy.

Cần phải nói ngay là vị giảng viên Toán nầy đã cố tình đổi thứ tự tên em sinh viên nầy. Người Việt mình ai cũng biết tên em là: Nguyễn Bùi Diễm Phúc. Với Nguyễn là họ của Cha. Bùi là họ của mẹ. Diễm Phúc là tên của em. Ý nghĩa của cái tên nầy là họ Nguyễn kết hợp với họ Bùi, rồi sinh ra một bé gái; là một diễm phúc, một hồng ân của Thượng đế ban cho.

Không hiểu được nền văn hóa của học trò mình mà vị giảng viên nầy cứ khăng khăng buộc em phải đổi tên thì đâu có được nè.

(Người Việt mình dù có căm thù thực dân Pháp nhưng cũng tôn trọng họ tên của kẻ thù. Như Toàn quyền Ðông Dương (1897- 1902) Paul Doumer được đặt tên một cây cầu bắc qua sông Hồng, sau nầy là cầu Long Biên. Ông bà mình đâu có kêu tay thực dân Pháp hạng nặng nầy đổi tên đâu. Vì cứ để vậy, khi nói lên nghe nó sướng, nó đã cái lỗ tai, đã cái bụng căm thù quân cướp nước mà không bị lính mã tà bắt nhốt.)

Em Diễm Phúc quyết định giữ hoàn toàn tên họ của em để cho mọi người biết rằng họ nên tự hào về cái tên của họ”

Em Diễm Phúc nói trước đây thầy Hubbard chưa bao giờ gặp em để hỏi cách phát âm tên của em như thế nào? Mà lại yêu cầu em phải ‘Mỹ hoá’ tên tiếng Việt của mình. Hành vi đó làm em cảm thấy mình không được tôn trọng, bị phân biệt đối xử.

Em sẽ nộp đơn khiếu nại nếu thầy không gọi em bằng cái tên khai sinh của em.

Sai rành rành ra đó mà ông giảng viên Toán nầy vẫn còn cố cãi chày cãi cối là: “Tên em đọc lên nghe giống như: ‘F *** Boy’

“Nếu tôi sống ở Việt Nam và tên của tôi trong ngôn ngữ của em nghe giống như ‘Eat a D ***’, tôi sẽ thay đổi nó để tránh bối rối cho thiên hạ” Tôi cũng từng kêu em khác phải ‘Mỹ hóa’ tên của mình, và em đó cũng làm. Tại sao em lại không?

Người ta nói giận quá mất khôn. Hoặc đừng hành động trong cơn giận dữ vì làm như vậy giống như giong thuyền vào cơn bão tố. Hubbard tiếp tục chơi khăm, bằng cách gọi em Diễm Phúc là ‘P. Nguyen’. Ai cũng biết P. trong tiếng Anh là ‘Pee’ nghĩa là đi ‘tè’. Rõ ràng là ông giảng viên dạy toán nầy muốn ăn thua đủ, muốn sỉ nhục đứa học trò mà ông cho là cứng đầu cứng cổ của mình. Ông quên rằng em lại là một nữ sinh thì phận làm thầy, mình không được quyền ăn nói thô lỗ, trây trúa như vậy chớ?

Tranh Bảo Huân

Công tâm mà nói: thời Trung học, em Diễm Phúc đã từng lấy tên là ‘May’; theo tiếng Việt cũng có nghĩa là may mắn, là Diễm Phúc. Cho dù ‘May’ nầy đọc là /Mei/ theo tiếng Anh, có nghĩa là tháng Năm, để bạn bè đồng song dễ gọi.

Rồi bước chân vào đại học, nơi môi trường giáo dục rộng mở, đầu óc thông thoáng hơn, em háo hức muốn lấy lại chính cái tên cha sanh mẹ đẻ đã cho mình. Nhưng nào ngờ!

Ông giảng viên nầy thừa biết một bài Toán đưa ra, câu trả lời chỉ đúng hoặc sai. Sai thì mình xin lỗi. Hết chuyện. Còn sai mà cứ khăng khăng áp bức người khác phải tuân theo cái ý của mình thì tuổi trẻ Hoa Kỳ nó đâu có chịu nè.

Chị của Diễm Phúc cũng phẫn nộ về cách hành xử của ông giảng viên Toán nầy đối với em gái của mình. Một mặt nộp đơn khiếu nại với nhà trường. Một mặt đăng ảnh chụp các emails lên Instagram để dư luận phân xử ai đúng ai sai? Chủ tịch Hội đồng quản trị, Viện trưởng, ngay cả Ban Ðại diện sinh viên đều phản đối hành động của thầy Matthew Hubbard.

***

Bị dư luận chửi quá xá đến nỗi ông thầy phải đóng luôn trang mạng của mình. Rồi bị sếp lớn rầy rà, buộc đình chỉ giảng dạy để nhà trường mở cuộc điều tra cho tới nơi tới chốn.

Sợ bể nồi cơm, nên thầy Matthew Hubbard đành bấm bụng thừa nhận hành vi của mình là không tế nhị, không phù hợp, đã gây ra nỗi buồn phiền và tức giận cho học trò và những người đọc emails của ông trên mạng internet.

Tuy nhiên lời xin lỗi, vỏn vẹn có hai câu, làm chị của em Diễm Phúc cảm thấy ông thầy nầy chỉ làm cho lấy có. “Ông ấy không dám chịu trách nhiệm về hành động của mình! Tôi đã rất lấy làm kinh ngạc và thất vọng về sự thiếu hiểu biết của ông giảng viên ấy và của cả trường nầy.”

***

Tuy nhiên vẫn có một số bà con mình cho rằng chuyện nhỏ như con thỏ. Chuyện bé xé ra to. Chỉ là ‘Storm in a teacup’, là cơn bão trong tách trà. Xong còn dạy đời thêm là: “Mình đến nước của người ta thì phải nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”.

Nói hời hợt như vậy đâu có được nè. Ðâu có cái luật nào bắt buộc mình phải đổi tên đâu; trừ trường hợp mình tự nguyện.

Mấy năm trước, có ông Tiến sĩ bên Mỹ đã đưa vụ việc phải viết tên trước họ sau ra Tòa. Tên của xứ Mít quê mình họ trước tên sau, tui hổng đổi gì hết ráo á. Tòa xử ông thắng vì tên là của ông thì ông muốn làm gì thì ông làm.

Quả vậy: Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp (2001-2003), Ðinh Ðồng Phụng Việt, Thiếu tướng Dù Lương Xuân Việt, rồi nhà văn Nguyễn Thanh Việt (giải Pulitzer năm 2016), cả ba ông đều giữ y chang tên ‘Việt’ đó thấy hông?

Ông giảng viên Toán nầy nếu có ngon đi kêu mấy ‘cây đa, cây đề’ nầy đổi họ tên đi thì sẽ biết thế nào là lễ độ. Ðể từ đó, từ giã luôn cái thói kỳ thị chủng tộc. Da trắng thượng đẳng mà lại đi ăn hiếp phụ nữ tay yếu chân mềm thì kỳ quá xá hè!

ĐXT

Dấu lặng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Oc 2026

Sau hơn cả năm tính toán, mẹ tôi quyết định làm mới ngôi nhà. Không hẳn toàn bộ, chỉ chú trọng thay đổi mặt tiền. Dự trù sẽ hoàn tất sớm và căn nhà lưu giữ nhiều kỷ niệm của chúng tôi sẽ thay da đổi thịt biến dạng thành quán cà phê. Mẹ trao cho tôi quyền hạn của một ông chủ, từ trang trí nội thất đến chuyện hệ trọng: Làm thế nào bạn kinh doanh nghề ấy mà không bị thất thu, hao hụt thâm thủng nợ nần. Tôi liên tục truy cập vào internet để rút tỉa kinh nghiệm, bỏ công đi uống tất cả những hàng quán đông khách mọc vương vãi trên từng cây số. Dò xét, thu thập hay dở và tự mường tượng ra một khung cảnh có mình lao đầu vào thử thách. Gia đình tôi không ai có năng khiếu bán buôn, mẹ chẳng tin tưởng gì, chỉ cốt tạo công ăn việc làm cho tôi, trước mắt là vậy, đắp đổi qua ngày.
Khi sửa sang, những người thợ xây cất đã ngạc nhiên khi đụng phải ý kiến của mẹ tôi, bà cương quyết giữ nguyên một khung cửa sổ, không thay đổi, không tháo gỡ, không bịt kín. Theo họ, ô cửa kia trông chẳng có mỹ thuật, không phù hợp với diện mạo một quán cà phê hiện đại. Những chấn song cũ kỹ, như máng treo mòn mỏi nơi một nhà tù thời thuộc địa… Người thợ già tuổi trong bọn họ bình phẩm, để chính ông tự tìm lấy lời giải: Chắc bà cụ tin vào chuyện phong thủy! Sợ húy kỵ một điều gì chăng?Mọi người thắc mắc, tôi cũng vậy, nhưng sau rốt tôi đã hiểu ra. Đó là khung cửa mà ngày xưa, đứa em út của tôi luôn bấu víu ngóng trông mỗi lúc mẹ tôi vắng nhà dài lâu. Em ngước mặt ra con đường, lộ vẻ hoang mang như thể thiếu mẹ, em chẳng nhìn thấy một niềm vui nào cả. Mẹ thương em là chuyện hiển nhiên, nhất là em đã chết hôm nào tìm đường vượt biển. Căn nhà sẽ lột xác nhưng mẹ muốn giữ chặt một hình ảnh, thứ hoài vọng dẫu buồn đau. Tôi đặt tên quán là “Dấu Lặng” như một biểu đồng tình, đồng thời tôi vẫn tin khách vào quán uống cà phê đa phần là muốn tìm lại âm hao một nỗi niềm vừa rời khỏi tay, chiêm nghiệm thêm về nỗi sầu khổ dịu dàng, như thất tình chẳng hạn, như một thề nguyền đã phôi pha, ví dụ thế. Cà phê đắng, làm mất ngủ, chừng đó chưa đủ phù hợp cho thứ tâm cảm kia sao? Đêm trước ngày khai trương mở hàng mẹ đã vận áo dài bày đồ ra cúng sát bên khung cửa. Tấm ảnh đen trắng độc nhất của em đã úa vàng theo thời gian và bất hạnh thay, chúng tôi chẳng hề biết đích xác ngày em từ trần. Đã trùng khơi hay vẫn còn nằm trong hải phận nước nhà. Thủy táng hay thây phơi trên đụn cát ẩm muôn đời vô thừa nhận? Tôi cũng đứng vái với một chân nhang đang tự hủy diệt chiều dài oằn thân, nó vắn số hơn cả lời thầm thì tôi muốn nhắn gửi tới em. Mẹ hỏi tôi đã kiếm đủ người phục vụ chưa? Rồi góp ý, có nên gọi Trâm tới ngồi ở quầy tính tiền không? Có lẽ Trâm vẫn chưa kiếm được việc làm. Cô không thể leo lên đại học vì vấn nạn lý lịch có cha anh là ngụy quân ngụy quyền, và sau cùng Trâm là bạn cũ của em tôi. Vì không đủ điều kiện, em tôi ra đi gần như trốn chạy Trâm và người bị phụ rẫy có khi họ khóc than do bởi một nguyên cớ khác. Tôi chưa thấy có ai khóc nhiều như Trâm, cơ hồ em tôi chết đi là chôn luôn bao hy vọng mà Trâm mãi kỳ vọng ký thác. Nghe lời mẹ, tôi thử gọi Trâm. Cô đến với sự hân hoan chẳng dấu diếm. Cô chào mẹ tôi, lễ phép hệt như những kẻ sinh trước hạn kỳ 75 và cô nói với tôi: Anh trả lương cho em tùy hỉ, em thích công việc này, em thích nhìn ngó sinh hoạt một cuộc đời thu nhỏ trước mắt mình. Mai em sẽ đi chợ xi-đa, lùng sục đồ hàng bành để mua một bộ áo quần hàng ngoại tự làm mới mình, tự cách mạng bản thân. Khi quan sát một vòng quán, cô nói: Em thích ô cửa già nua kia, nó giúp mình ngoái nhìn những ngày cũ. Không phải là kẻ hoài cổ nhưng cái hiện tiền này nó đã ló mặt với tất cả vẻ trân tráo và sa đọa. Đôi khi, có lúc người ta phải hụp lặn vào ngày cũ để tìm bình an, anh tin không? Tôi tin và tôi an lòng khi có Trâm đến phụ việc. Mẹ bảo, nếu thằng út chẳng vắn số, biết đâu mẹ có được đứa con dâu lanh lợi tựa Trâm. Điều ấy ngầm nói hãy xem Trâm là một thành viên trong gia đình. Trâm chẳng mấy đẹp, khuôn mặt sầu muộn ấy như chứng tích của nhọc nhằn mà đời sống mới đã tác động vào, gây tác hại. Cô là hoa hậu của những bông hoa thiếu nước và thiếu ánh sáng. Cô có hỏi qua ý tôi trước khi mang tới quán bức chân dung được em tôi vẽ tặng để máng treo vào một mảng vách trống mà cô bảo cần có thứ gì điền vào cho hợp lý. Tôi xúc động khi ngó ra chữ ký em tôi dưới góc khung bố. Có lẽ đây là tác phẩm tạo hình duy nhất của em và dù không hiểu về lĩnh vực hội họa, tôi vẫn nhìn thấy sự hiển lộng toát ra từ bức tranh. Trâm đẹp quá, trong sáng quá dưới nét cọ, hay đúng hơn dưới nhãn quang giàu cảm xúc của em tôi. Tôi đề nghị Trâm hãy treo nó phía sau quầy, nơi cô ngồi thu tiền, để cho khách thập phương tự tra cứu sự khác biệt về một cảnh giới hoang tưởng và sự thật đầy thương tích này. Để chứng minh lòng trân qúy cái đẹp tôi đi mua một cái khung gỗ có chạm trổ để lồng bên ngoài và bắt ngọn đèn nhỏ chiếu xuống thứ ánh sáng chừng mực vào một khuôn mặt như có học qua thuật thôi miên.

Quán khá đông khách, có thể do khung cảnh, âm nhạc chọn lọc, giá các thức uống vừa túi tiền, và cũng có thể do bởi sự hiện hữu của Trâm. Buổi tối về muộn, bao giờ cũng có đôi ba cậu thanh niên sẵn lòng hộ tống Trâm với lý do chúng biện minh: Bảo đảm an toàn cho người đẹp. Dĩ nhiên là Trâm tìm đủ mọi cách từ chối và tôi nghĩ tình trạng ấy nên chấm dứt, cho khỏi nhọc lòng đôi ba bên. Chuyện tới tai mẹ tôi, bà nói đi đêm cũng có ngày gặp ma. Những đứa trồng cây si ấy biết đâu chúng sẽ đổi thái độ nếu bị xua đuổi, thời buổi này hở một tí là động tới đao kiếm cường toan rạch mặt trấn lột hung bạo, thôi đã xem như người nhà thì con có thể ngủ lại đây. Chớ ái ngại.

Quán bán cà phê chiếm hai phần ba diện tích căn nhà, phía sau còn một phòng trống và Trâm đồng ý trú ngụ ở đó. Những đêm mưa gió, những tối mùa đông buốt giá sẽ chẳng còn đe dọa cô như trước. Trâm tiết kiệm được nhiều thứ, kể cả thời gian, cô tắm sớm và được ngủ đầy giấc hơn.

Một buổi sáng, khi dùng bữa điểm tâm, Trâm nhác ăn, biểu lộ sự ngầy ngật khó hiểu. May mà mẹ tôi đi chùa sớm và tôi có quyền lên giọng tra khảo khi chỉ còn hai đứa. Vặn hỏi mãi cô mới tiết lộ, đêm rồi em mộng thấy anh ấy, anh băng qua cánh cửa sổ ngoài kia, thoắt cái anh chui vào mùng và tụi em đã làm tình với nhau. Trâm gục đầu xuống bàn, được nâng đỡ bằng hai vòng tay khoanh tròn. Phía trước là dĩa xôi bắp chưa suy suyễn có những sợi tóc rối vung vãi. Em vào tắm rửa, em sẽ lên chùa, hôm nay cho phép em làm việc trễ một hai tiếng.

Tôi ngó theo khi Trâm rời bàn ăn. Có hoang đường không, bộ đồ ngủ kia chính tay tôi cẩn trọng cởi nó ra hồi hôm. Trâm chìu lòng, dịu dàng hứng đỡ sự đòi hỏi thịnh nộ của tôi để đến lúc đi cuối đường tôi đã gục mặt vào mái tóc kia đang xõa bung trên gối. Giấc mơ chỉ chừng đó, không được rõ nét những vùng da thịt lồ lộ phơi bày của Trâm. Tôi đã nằm mộng nhiều đêm và bao giờ cũng ngần ấy hình ảnh. Chỉ riêng sáng lạ thường này, Trâm cũng trải qua một giấc liêu trai, trùng hợp. Khác biệt duy nhất: không rõ Trâm ôm người em hay ông anh?

***

Trâm đứng cúi đầu với đôi mắt mọng nước. Sương khói hay nhang đèn làm buổi sáng mù mờ vẩn đục. Tôi đã nói nhiều lần nhưng Trâm không nghe, bắt tôi chở cô tới nghĩa trang quạnh vắng này. Mộ bia đề tên em tôi nhưng kỳ thực đó là ý tưởng của mẹ. Bà định liệu mua sẵn một chỗ nằm, để khỏi phải bị xí phần bà ngụy tạo ra một tên tuổi. Em tôi chết không có được một nấm mồ, bà làm vậy, một công hai chuyện, để tưởng nhớ em tôi trong lúc bà chưa thực sự xuôi tay, đi gặp mặt nó bên kia thế giới ngăn cách. Rồi bà sẽ điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, và Trâm nên hiểu phía dưới mặt đất vẫn tuyệt đối chưa ôm lấy một bộ xương. Đất vẫn lạnh thường hằng, đất vẫn câm nín vĩnh cửu, đất trinh nguyên chưa bị đào xới phủ lấp qua bằng cuốc xẻn một lần.

Có thể Trâm cần một thứ bối cảnh, Trâm cần nhìn tấm bia có khắc đủ đầy tên họ em tôi, Trâm ngó tận mặt nó để biết chính xác rằng em tôi đã chết. Như vậy cô sẽ an tâm khi dốc lòng tâm sự. Người ta tin vào điều kỳ lạ, lâm râm nói không thành tiếng, chỉ máy môi vậy mà người nằm dưới ba tấc đất sẽ nghe hiểu tường tận thông suốt, cái mới dễ nể! Trong lúc đó, hai kẻ trên dương thế có khi nói sùi bọt mép, khô hơi rát cổ đả thông tư tưởng cho nhau mà rốt cuộc ông nói gà bà nói vịt, dễ đi đến chia rẽ gây hận thù. Cái mới nghiệt! Chơi với ma e dễ chịu hơn giỡn mặt người. Trâm thành kính với em tôi mà với tôi thì sức mấy cô niệm tình tha thứ nếu tôi mù quáng phạm tội.

Đôi lúc những thầm thì kia chợt phát tiếng, từ nhỏ tới lớn như muốn công khai niềm u ẩn riêng tư. Trâm khấn nguyện mà như đọc thơ, vần điệu ê a lên xuống trầm bổng kiểu kinh kệ. Nó chui vào tai tôi và thứ thất ngôn chen cài tứ tuyệt lục bát kia đã như mưa móc rơi vãi lên linh hồn tôi gây gợn sóng lao xao mát ngọt một cảm nhận. Đại ý Trâm nói số của cô tuồng như phải gắn chặt vào dòng họ nhà tôi, đã không như nguyện keo sơn với em tôi thì giờ đây xin được gắn liền sắt son với tôi. Mẹ đã vui vẻ thuận lòng và em cần danh chính ngôn thuận loan tin cho anh hay. Hãy chứng nghiệm tấm lòng này và độ trì cho em có được thứ niềm vui nhỏ bé.

Mẹ tôi cầm hai lá số tử vi của bọn tôi đi gặp thầy bói để định ra thứ ngày lành tháng tốt mong phụng đoàn tụ cùng long vui vầy mây mưa vờn trăng giỡn gió. Mở quán bán cà phê chả thèm để ý ngày kiêng cử, chuyện nhỏ; nhưng việc lập gia đình e kíp gọi là điều hệ trọng của đời người, không dòm tháng ngó ngày mai sau chớ đổ thừa con hư tại mạ. Trâm cũng siêng đi, như con ong cái kiến tẳn mẳn lo mua thứ này sắm thứ nọ tha về chất dưới giường chuẩn bị cuộc đổi đời từ con gái thành ma-đam. Cô lăng xăng, túi bụi lùng bùng như kiểu người có ba đầu sáu tay ngồi không yên chỗ. Cô sẵn lòng, chuẩn bị đi hết con đường mà mẹ tôi luôn mong chờ: Cho mẹ một đứa cháu nội. Chưa bao giờ, ngôi nhà này cần có tiếng khóc cười của trẻ thơ như hôm nay.

Sáng ấy, Trâm dậy sớm. Cô cho hay sẽ đi bệnh viện khám tổng quát, xét nghiệm máu, thử nước tiểu các thứ. Trâm biểu tôi chở cô đi, khi về sẽ gọi xe ôm, bởi chẳng biết mất bao lâu mà chờ đợi. Tôi nói, ừ thì anh về lo bán buôn, hồi nào xong, gọi anh một tiếng để tới đón. Tôi đưa cho Trâm cái điện thoại di động. Tôi thích tự mình chở Trâm hơn là để cô giao mạng cho những tên hành nghề xe ôm lòn lách bạt vía.

Vừa làm việc tôi vừa để tâm ngóng đợi tiếng chuông điện thoại réo gọi. Tĩnh lặng cho tới quá trưa thì chuông kêu hối thúc đổ dồn. Không phải Trâm, giọng kẻ lạ, một người đàn bà hảo tâm. Bà loan tin Trâm bị xe đụng phải trước cổng bệnh viện, điện thoại di động văng tuốt tới chân bà đứng và suy tính, bà nghĩ nên thông tin cho tôi hay. Anh nên bình tĩnh. Bà nói thế. Tôi hộc tốc chạy tới hiện trường oan nghiệt. Tôi cố giữ bình tĩnh dù đôi tay mãi run, ngực tức khó thở. Lắm kẻ hiếu kỳ mọc chân hai bên lộ không ngớt bàn tán. Người ta đã mang Trâm vào lại bệnh viện, giờ thì ở khu vực cấp cứu khẩn trương. Mặt đường trầy trụa dấu hắc ín và vũng máu chưa kịp khô, vung vãi như nói với tôi về một tình huống xấu, rất mực tồi tệ.

Bác sĩ chào thua thần chết, hay đúng hơn Trâm chạm trán với tên ác nhân. Chúng tôi đang sống trong thời điểm mà những tay lái xe đều thủ đắc một cẩm nang: Nếu lỡ tông phải bộ hành, bạn nên biết chắc kẻ ấy không bị thương tật. Dứt khoát cầm chắc cái chết, bởi nó sống, không cách gì bạn trang trải xong tiền bồi hoàn thuốc thang đền bù linh tinh các thứ phiền toái. Trâm chết, vợ tương lai của tôi đã tử vong. Mọi thứ nghe sao giản dị đến thế, như thể bạn đi ngủ để chỉ gặp phải cơn ác mộng, nó đến tình cờ và ra đi dễ dãi. Như sóng rầm rộ đánh vào bờ rồi lặng lẽ rút khỏi triền cát ẩm. Tôi muốn khóc nhưng đôi mắt mãi khô. Nỗi buồn không kịp đến, thế chân là sự chịu đựng trân tráo, lì lợm. Cuộc đời này bạc ác quá, cho đứa em út, cho Trâm và cho cá nhân tôi.

Đám tang cử hành với tất cả những giản đơn, cơ hồ một nhà thương thí khi tẩm liệm chôn cất một tử thi không thân sơ thân bằng quyến thuộc, mồ côi, lạ mặt dưới bầu trời này. Mẹ tôi đã cho Trâm vuông đất hậu sự để dành riêng bà sở hữu. Tự tay tôi làm mộ bia cho Trâm, trồng lên sau khi nhổ bứng cái tấm bảng có đăng ký thường trú tên tuổi em tôi. Lạ không? Phải chăng đời sống chỉ là một cuộc hoán đổi? Hôm nay tôi làm chủ, mai mốt sẽ bàng giao lại cho anh. Hãy để cuộc chuyển nhượng ấy xẩy ra trong hòa bình mà đừng lớn chuyện đôi co hận thù. Mà tại sao lại thù hận khi tất thảy chúng tôi đều là người một nhà?

Tôi tạm đóng quán một tuần lễ, có niêm yết lời kính cáo đi kèm hàng chữ “tang gia đồng khấp báo”. Tôi mang bức tranh em tôi vẽ chân dung Trâm tới bên mộ, loay hoay mồi lửa để hỏa thiêu. Trâm ngó tôi, nhăn nhó, co rúm, tóp teo cho đến hồi lụn tàn đốm lửa thoi thóp, ngúm tắt. Tôi quan sát trình tự sự hủy diệt kia, tôi muốn nói cho Trâm biết lòng tôi không hề diễn biến theo đúng với thứ phản ứng ấy, có nghĩa là tình yêu tôi dành cho Trâm, trước sau vẫn run rẩy một đốm sáng, nó leo lét nhưng tuyệt đối nó sẽ không chịu phụt tắt.

Mẹ tôi siêng đi chùa hơn, ít nói hơn. Tôi chăm chỉ làm lụng hơn, tiền thu nhập ít hơn. Trong quán luôn xao động một thứ gì đó, vô hình, làm mát lạnh. Tôi có ý nghĩ kỳ khôi, như tôi đang kinh doanh nghề bán cháo lú. Mùi hương trầm thường phảng phất trong không gian.

Tôi sống không định hình ra được ngày mai, những gì khuất mặt thường mang theo bao huyền nhiệm, đừng mất công hoạch định dự trù. Nói trước bước không rời, đó là thứ phương ngữ mà mẹ tôi hay nói. Chẳng vướng bệnh hoạn nhưng trong cơ thể tôi nghe chừng mọi tế bào đã mòn hao, đánh mất dần những cảm xúc. Tôi có thể dửng dưng ngó thằng côn đồ vô cớ chém sạt bờ vai một bà già. Tôi chẳng gợn lòng khi ngó cảnh lột truồng tựa thú vật của hai người đàn bà đang đánh ghen… Tôi như một động cơ máy nổ mà bình chứa nhiên liệu đã bị bít kín. Một ngày rất gần, tôi sẽ giã biệt sự bần thần này. Đứng máy, im tiếng, cạn hết xăng.

Tôi đốt thắp nguyên một bao hương, cắm bó nhang trong ly thủy tinh, đặt ngay trên bệ cửa sổ. Một ngày mới lại bắt đầu, tỏa khói.

Hồ Đình Nghiêm

Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 16 Oct 20265

Thanh Phong, đầu năm 1980 khi chúng tôi từ Tân Lập (Vĩnh Phú) chuyển đến thì trại mới làm xong; đây là trại tù thuộc loại dã chiến ở giữa rừng thuộc huyện Như Xuân Thanh Hóa, nơi giam giữ những loại “ác ôn, nợ máu” như Biệt kích, Phòng Nhì, An ninh, Chiến tranh Chính trị, v.v …Một trại K2 mà chứa hơn 1 ngàn tù cải tạo. Dần dần một số anh em trẻ (chắc được coi là ít nợ máu hơn) được dời về trại Thanh Lâm – Cuối năm 1980 lại có một số anh em được chuyển về Nam. Năm 1982 trại chỉ còn một nửa, chừng 500 tù cải tạo. Đây là thời điểm chuẩn úy Kh., đối tượng đảng, muốn đá đít thủ trưởng của y trung úy L. lên làm chính trị viên K2, tức là Trưởng ban Giáo dục trại.

Anh em tù cải tạo K2 lâm vào thế kẹt. Trước đây với số hơn 1 ngàn tù, đảng và nhà nước đã thực hiện tài tình và sáng tạo sách lược “nước sông công từ” nên ra sức phá rừng làm rẫy, trồng sắn, trồng khoai, trồng ngô, trồng trà, trồng rau. Bây giờ tù đi một nửa rồi, lại đi phần lớn các anh em trẻ, còn lại toàn là tù già mà lại phải cáng đáng toàn thể nương rẫy của anh em để lại. Năm ấy chủ trương của nhà nước là “hạch toán kinh tế”, đâu đâu cũng phải tự làm lấy mà ăn; trại tù cũng vậy, chính phủ không chu cấp nữa. Thành ra tù K2 sống theo một tỷ lệ nghịch: ăn ít đi mà làm việc nhiều lên. Ở đây lại nước độc rừng thiêng, thủy thổ bất phục nên anh em tù càng ngày càng gầy yếu, hom hem, nhiều người sốt rét vàng mắt, vàng da, chân phù bụng ỏng. Cả cái xã hội từ “tù trong” là tù ở trong trại, cho đến “tù ngoài” là dân chúng ở chung quanh đều xác xơ, lam lũ, tang thương, ốm đói. Đất ở đây như không còn sinh khí. Không phải “đất của người”.

Đất đá nứt tan thành bụi lửa,

Chẳng tìm đâu thấy một mầm tươi.

Gió Lào thổi cháy mùa khô rụm,

Đất ở đây không phải của người.

(Tô Thùy Yên)

Mình là phạm nhân, là tù khổ sai biệt xứ thì cái sự đớn đau khổ nhục là lẽ thường tình. Nhưng đáng buồn và đáng thương nhất ở đây là đàn bà và trẻ con. Những người đàn bà thiểu số người nhỏ chân to còng lưng trước những cái gùi nặng trĩu, bước đi chuệnh choạng leo lên núi đi thất thểu về một bản xa nào. Những thiếu phụ hai tay mang xách bộn bề nào bị cói, nào tay nải, trên lưng còn địu một đứa nhỏ khẳng khiu teo nhách như một cái giải khoai. Hai đứa trẻ mới chừng 8, 9 tuổi lùn như hai cái nấm mà mỗi đứa mỗi đầu, chung vai khiêng một cây tre từ đây ra chợ huyện Như Xuân đem bán. Ngay cả vợ con cán bộ trại ở đây cũng bủng beo vàng vọt. Nước suối Như Xuân xanh ngắt, lội qua còn rụng lông chân, đàn bà trẻ con chịu làm sao thấu. Ở đây, đàn bà không có tuổi xuân và trẻ con không có thời thơ ấu. Nhiều gia đình người Kinh bị “chỉ định cư trú” tại khu vực này, con trai không dám lấy vợ, con gái không dám lấy chồng vì một mình son rỗi mà còn không kiếm đủ ăn, lấy vợ lấy chồng rồi đẻ con ra lấy gì mà nuôi, khốn cùng một lũ.

Đớn đau là phận chúng mình,

Trai khôn để lỡ, gái trinh để già.

(Trần Huyền Trân)

***

Trước tình trạng thiếu “quân số” của trại lại thêm tù già càng ngày càng bệnh tật, lao động cầm hơi, chuẩn úy Kh, phó trưởng ban giáo dục mới của trại liền đề ra khẩu hiệu “đảm bảo hoàn tất chỉ tiêu lao động trong bất cứ tình huống nào”. Khẩu hiệu này đưa ra nhằm “khống chế quân số”. Tù dù ốm đau, dù già yếu đến đâu nhưng để hoàn tất chỉ tiêu lao động là phải đi làm hết. Chỉ bệnh thật nặng, nằm liệt đi không nổi thì mới được nghỉ mà thôi. Cụ thể sốt rét là vẫn phải đi làm. Ở bệnh xá, có một bác sĩ “ngụy” còn ở lại. Kỳ về Nam trước các bác sĩ “ngụy” đều được chuyển hết, riêng bác sĩ VN không được về. Người ta nói bác sĩ này hơi khùng. Học tập, kiểm điểm, liên hệ bản thân bác sĩ VN nói rằng “Tôi không có tội gì. Tôi là bác sĩ dân y được trưng tập vào quân đội. Tại bệnh xá, tôi chữa cho bất cứ người bệnh nào cả quân và dân, chữa cho tù binh tức là người của cách mạng nữa. Người thầy thuốc không có phân biệt ranh giới chính trị hay xã hội. Chỉ có việc chữa cho người đau, người bệnh mà thôi”. Vì phát biểu ngang xương như thế nên đồng nghiệp về Nam hết, riêng bác sĩ VN vẫn còn ở lại trại tù miền Bắc.

Tuy bác sĩ VN khùng khùng như vậy nhưng nghe nói anh lại là một nhà phẫu thuật tài danh. Con mắt quan sát của anh hết sức nhạy bén, cái tay mổ xẻ của anh vô cùng điêu luyện. Anh không phải là bác sĩ Nhãn khoa, nhưng trước đây anh có nghiên cứu về giải phẫu thẩm mỹ nên ở trong tù, anh có giải phẫu thành công cho một phạm nhân già hình sự (người Thái Bình, Bắc Việt) bị mù vì mắt kéo màng. Cả trại tù, từ tù chính trị đến tù hình sự đều theo dõi ngày cắt băng cho người vừa được mổ. Buổi chiều trước kẻng vô buồng, anh tù hình sự mới được cắt băng được đưa ra sân trại. Anh đang giơ tay đi những bước ngỡ ngàng sau mấy năm chìm trong bóng tối. Bước đi của anh còn chấp chới, còn loạng choạng nhưng anh đã biết tránh các gốc cây. Bác sĩ VN giơ tay và nói “Lại đây, lại đây nào!” Anh tù già hình sự lần lần bước tới. Anh đã nhìn thấy lờ mờ người vừa trả lại cho anh ánh sáng. Anh bước đi từ từ, chập chững nhưng đúng hướng, tới nơi anh hấp tấp ôm chầm lấy ân nhân của anh mà khóc lớn. Những giọt nước mắt già chảy trên khuôn mặt nhăn nheo. Hình như đôi mắt của bác sĩ VN cũng long lanh ngấn lệ.

Mình tự thương mình …

Trong một trại cải tạo giữa rừng sâu mà “tù trong” cũng như “tù ngoài” rách mướp bệnh tật rề rề như vậy, sự có mặt của bác sĩ “ngụy” VN thật là quý giá. Các đồng nghiệp của VN trong 2 lượt chuyển tù từ Bắc vô Nam đã đi hết, bác sĩ “khùng” VN còn ở lại. Nhưng sau 2 vụ đưa tù vô Nam về cuối năm 80 và đầu năm 81, trung úy L., cựu Trưởng ban giáo dục trại như đã nói, có thái độ hòa hoãn, dễ dãi hẳn ra đối với tù cải tạo. Phải chăng những điều mắt thấy tai nghe ở miền Nam đã có tác động thẳng đến tư duy và hành động của trung úy L .? Nội qui của tù cải tạo là không được tiếp xúc với dân. Một bữa tại đội rau của tôi, cách trại chừng 2 cây số, ông bạn tù cùng tổ và cùng đội với tôi là Thượng tọa Thích Thanh Long bắt gặp ở ven đường gần vườn rau một đứa nhỏ người thiểu số nằm ngất đi bên bụi rậm. Trời lạnh thấu xương, cái lạnh của sương muối, của sơn lam chướng khí chốn rừng sâu làm thằng nhỏ răng nghiến chặt, thân xác tím bầm vì giá rét. Nó mặc phong phanh một cái áo thun đã rách, quần gần như không có, hay đã bị xé rách đi vì ở chân, chỗ đùi non có một vết sâu quảng to gần bằng bàn tay, máu mủ bầy nhầy, mùi hôi tanh sặc sụa. Không biết nó đi đâu mà nằm ngất ở đây. Ông già buổi sáng ra suối múc nước tưới rau bắt gặp thằng nhỏ nằm phủ phục bên đường. Lay gọi mãi mà nó nín thinh, không tỉnh. Ông già liền cởi áo blouson đang mặc khoác lên người nó rồi để thùng tưới ở lại, ông ôm thằng nhỏ về bệnh xá. Công an bảo vệ ra ngăn cản không cho ông già đi, vì làm như vậy vi phạm nội qui và trái với nguyên tắc lao động. Ông già bảo rằng “không lẽ dể thằng nhỏ nó chết ở đây sao? Cán bộ cứ để cho tôi đi, sau rồi có kỷ luật gì tôi cũng chịu.” Rồi ông già vác thằng nhỏ mang đi. Vào bệnh xá, bác sĩ VN săn sóc ngay cho nó. Tim nó còn đập nhưng vấn đề trước tiên là đói và lạnh quá. Nhóm ngay một đống lửa sưởi. Nhưng còn vấn đề ăn thì kẹt. Ai cũng đều đói quá ở đây. Đội già yếu ở nhà, ngồi đan lát ở ngay gần bệnh xá. Một người vội chạy sang ông hoàng của tù là ông Hãn, nguyên đại tá an ninh, đang ngồi “ra nan” ở đó. Vừa nghe xong câu chuyện là ông hoàng của tù mở giỏ cần xé lấy ra một hộp sữa con chim “đem ngay sang cho nó uống”. Đây là người tù giàu có nhất và hào sảng nhất của trại K2. Ông có con ở Mỹ, ở Pháp gửi quà về đầy đủ; ông lại là người Công giáo toàn tòng nên ông được thăm nuôi rất đều đặn. Cứ 3 tháng một lần “đến hẹn lại lên”. Ông có một ông anh vợ, ông A., đi thăm ông và nhân tiện đem quà cho mấy vị linh mục thật là siêng năng. Mỗi lần, ông Hãn nhận chừng 60, 70 ký quà, thức ăn, vật dụng, thuốc men đủ thứ trên đời. Ở trong trại K2 này cũng có một số anh em khác dư dả lương thực, thuốc men nhưng ít ai có tấm lòng hào hiệp như ông Hãn. Thấy ai thiếu thốn, cần gạo, cần mì, cần sữa, cần thuốc lào … là thể nào ông cũng chu cấp, không nhiều thì ít. Ông sẵn lòng biếu tặng dù đối với anh em chưa quen, biếu tặng cả anh em tù hình sự. Cho nên ông được anh em xưng tụng là “Ông Hoàng của tù”. Xét ra, với tấm lòng độ lượng, đồng bệnh tương lân của ông, ông Hãn xứng đáng với lời xưng tụng ấy.

Đội rau của tôi và đội già yếu ở chung một lán nên tôi rất gần gũi với ông Hãn. Ông ta cho hay là “trăm sự cũng là nhờ ông A., ông anh vợ của tôi. Mấy chục năm nay, hai cụ nhạc tôi ở với chúng tôi ở trong Nam. Ông anh nhà tội thì ở lại ngoài Bắc. Bây giờ chắc ông nghĩ cái tình các cụ ở với vợ chồng tôi vui vẻ, đầm ấm nên ông anh vợ tôi thương tôi mà thăm nuôi đều đặn.” Bản thân kẻ viết bài này chắc cũng phải cảm ơn ông A. Vì ở đây tôi có lúc sốt rét rất nặng, tưởng đã đi rồi. Lúc bấy giờ tôi chưa quen ông Hãn; chỉ nghe tin tôi sốt rét, ông đã tặng ngay cho tôi 3 viên Fansidar. Uống xong là khỏi, là dứt sốt cách nhật, dứt vàng da, vàng mắt. Cho nên sau này được đổi về đội rau ở cùng với ông Hãn một nhà, tôi mới gần gũi với ông Hãn và càng ngày càng thân thiết với ông hơn.

Thằng nhỏ người thiểu số khi được sưởi ấm, được uống sữa nóng sau đó được bác sĩ VN rửa vết đau sâu quảng rồi lấy penicilline bột của “ông hoàng của tù” rắc vào thì nó khỏe ra. Đến trưa thì nó tập tễnh đi về được. Nó nói là buổi sáng sớm, tính đi vô rừng kiếm măng, kiếm nấm nhưng lạnh quá, chịu không nổi. “Ông hoàng của tù” tặng thêm cho nó gói mì cùng với hộp sữa uống dở và ông già đồng bạn làm rau của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long thì tặng luôn nồ chiếc áo blouson của ông đang mặc. Thằng nhỏ ra về mạnh ra, no lên. Thấy ông già gần 70 tuổi co ro vì lạnh, cái áo blouson đã tặng cho thằng nhỏ rồi, một vị linh mục liền lấy chiếc áo len dự trữ của mình ra tặng ông bạn tu hành. Ở ngoài đời, ít khi có chuyện một ông thượng tọa lại đi mặc áo của ông linh mục. Nhưng ở trại tù này chuyện đó đã xảy ra. Sau đó, theo lời bác sĩ VN, cứ hai ngày thằng nhỏ lại tới để bác sĩ chăm nom cho nó về cái vết thương sâu quảng. Từ nhỏ đến giờ nó, cũng như đồng bào ở đây, chưa bao giờ uống hay dùng thuốc Tây, bây giờ uống vô sao nó kiến hiệu như thần. Chừng 1 tháng sau thì thằng nhỏ khỏi vết thương chân và có da có thịt hẳn lên. Tụi tôi, ai cũng gần gũi, mến thương, bù trì cho thằng nhỏ. Tù đã 6, 7 năm, lũ chúng tôi ai mà không nhớ vợ thương con. Nhất là nhớ con. Nói ra xin các bà đừng giận, chúng tôi phần lớn là nhớ con hơn là nhớ vợ. Tụi nhỏ sinh ra đâu có tội tình gì mà chúng phải mang cái án của bố nó, là chúng tôi để lại. Học không được học, làm không được làm. “Con ngụy” thì sống không được rồi, nếu không bữa no bữa đói ở khu kinh tế mới thì cũng vất vưởng nơi đầu đường xó chợ ở đô thành. Theo xã hội mới chúng thuộc về giai cấp bị triệt tiêu, không có lý do tồn tại.

Ở đây giữa chốn rừng sâu núi thẳm, nghĩ lại lời anh trưởng trại Trung tá Công an Thùy “mồi”, còn rởn tóc gáy. Anh ta khi tới đây mới là thiếu tá, vì có công gây dựng trại tù dã chiến Thanh Phong, nơi giam giữ lũ ác ôn, nợ máu nên vừa thăng trung tá. Tụi tôi gọi anh ta là Thùy “mồi” vì anh ta tên là Thùy có cái cười “tiếp theo” rất là đặc biệt. Anh ta nói năng, chuyện trò “nhạt bỏ cha” nhưng lại muốn người ta cười tán thưởng, nên phải cười “mồi” trước. Anh ta phát ngôn thế này “Các anh ở đây, lao động vinh quang, biến nơi này thành nông trường, lâm trường, thành thị trấn. Rồi đây, đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho gia đình các anh lên đây đoàn tụ … Vui biết mấy.” Nói đến đây xong là anh ta cười “mồi”. Nhưng ai mà cười theo cho được. Có khi còn rụng rời muốn khóc …Giả thử kế hoạch của đảng và nhà nước được trưởng trại Thùy “mồi” thực hiện thành công, nói đổ xuống song xuống biển, thì con tôi, cháu tôi có lẽ cũng sẽ giống như thằng nhỏ thiểu số kia. Đói rét, ốm đau, bệnh tật rồi một ngày nào đó rũ xuống im lìm như cây cỏ bên đường mục rã. Không, con tôi không thế được, cháu tôi không thế được. Chúng nào có tội tình gì. Cho nên bây giờ chúng tôi gần gũi mến thương, bù trì cho thằng nhỏ thiểu số kia, chính là chúng tôi tự thương con, thương cháu mình trước hết.

Ánh đuốc

Cái chuyện ông bạn tù già của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long đang buổi lao động mà bỏ ngang, ôm thằng nhỏ người thiểu số ngất đi bên suối về bệnh xá rồi săn sóc cho nó tỉnh lại được chuẩn úy Kh. phó ban giáo dục trại hăm he ghê gớm – bắt làm kiểm điểm, đích thân ông già phải lên ban giáo dục để cho “cán bộ” hỏi tra. Ông già bị kết vào 2 tội: vi phạm nội qui (liên lạc với dân) và khinh thường lao động (bỏ ngang buổi làm). Ông đang bị chuẩn úy Kh. đề nghị kiên giam. Nhưng đề nghị của chuẩn úy Kh. chưa được thi hành vì trung úy L. trưởng ban giáo dục trại còn lờ lững “để đấy đã”. Từ khi đưa tù vô Nam và ở trong đó một thời gian, trung úy L. hình như trở nên một con người khác. Thái độ đối với tù nhân cởi mở, dễ dãi hẳn ra. Không biết y ta đã mục kích những gì ở Sài Gòn nhưng cái câu đầu lưỡi của y ta bây giờ là “ở trong Nam người ta thế này, trong Nam người ta thế khác”. Trước đây y ghét thậm tệ các ca khúc miền Nam, mà y ta gọi là “nhạc vàng bệnh hoạn”. Nhưng từ khi ở miền Nam về, thỉnh thoảng lại thấy y ta huýt sáo miệng nho nhỏ bài “Em ơi, nếu mộng không thành thì sao”. Một bữa vừa kẻng nghỉ giữa buổi, y ta lững thững đi vào đội rau của tôi. Ở đội này có mấy tay văn nghệ, ca hát “ra gì” lắm. Một anh là đại úy phi công, giọng thật ấm, thật trầm hát cứ như Nat King Cole vì anh ta học ở Mỹ trên 3 năm. Một anh khác, nguyên là tỉnh đoàn phó xây dựng nông thôn, nên ngoài việc ca hát tân nhạc, anh ta còn ca vọng cổ rất mùi. Ở trường huấn luyện xây dựng nông thôn, cổ nhạc là một môn bắt buộc trong chương trình, vì về miền quê trong Nam mà không biết cổ nhạc là kể như “trớt quớt” làm sao mà đi vào quần chúng. Lại có một tay nữa, dân trung ương tình báo nhưng ngày xưa có được đi huấn luyện ở Pháp, hát những bài Tây ban nha rất độc, đặc biệt là bài Guantanamera của Cuba.

Trung úy L. tới thăm anh em đội rau, rồi y ta đưa ra bao thuốc lá mà xởi lởi “các anh cứ hút thoải mái”. Tù mà vớ được thuốc lào hay thuốc lá thì cũng như “lân thấy pháo”. Ông già Thượng tọa đội rau của chúng tôi tới hôm nay chưa phải kiên giam cũng là nhờ trung úy L. này. Y ta đề nghị anh em hát một vài bài giải lao. Được giới thiệu, tay phi công liền hát bài “Hải Phòng, thành phố hoa phượng đở”. Anh công an bảo vệ nghe xong vỗ tay đôm đốp “Chất giọng anh này tốt. Hát bài “bác đang cùng chúng cháu hành quân xem nào.” Trung úy L. nghe vậy liền giơ tay “thôi, hát bài ấy ở đây không hợp”. Y ta cười cười mà hỏi tay phi công vừa hát: “Có bài nào rậm rịch không?”. Những điệu Swing, Bebop, Cha Cha Cha ở ngoài Bắc trước đây là cấm chỉ, nhạc tư bản đồi trụy, không được chơi, không được hát. Nhưng bây giờ thể loại đó đang được thịnh hành, nhất là giới trẻ. Núp dưới niêm hiệu “ca khúc chính trị” những bài hát nhạc điệu rộn rã, vui tươi, thúc giục những cái thân hình uốn éo, kêu gọi những bước chân nhảy nhót đang là thời thượng. Những bài ca “khẩu hiệu”, thuộc loại “ơn đảng, ơn người” đang lùi vào lãng quên. Tất cả những bài hát rộn rã, vui tươi theo lối mới được quần chúng miền Bắc gọi chung là “nhạc rậm rịch”. Cái gì chứ hát “rậm rịch” là nghề của chàng, tay đại úy phi công này ở Mỹ lâu năm, hát tiếng Mỹ hay hơn tiếng Việt. “Nhưng mà hát rậm rịch thì chúng tôi chỉ biết hát bài nước ngoài không có bài hát trong nước.” “Bài ngoại cũng được nhưng là bài gì?”

“Bài này gọi là Beautiful Sunday”. Nói xong, tay đại úy phi công nhìn tôi, như ngỏ ý một sự tiếp tay. Tôi liền trình bày “Bài này đã trở thành bài hát quốc tế, đài Hà Nội thỉnh thoảng vẫn chơi” (cái này phịa, không dám bảo đảm à). Bài này gọi là bài “Chủ nhật hồng” ca ngợi phút nghỉ ngơi của người lao động”. “Chủ nhật hồng là được rồi, ca ngợi người lao động là được rồi”. Trung úy L. phất tay ra hiệu “cứ hát”. Ở xã hội ngoài Bắc, có những từ như đỏ, như hồng, như lao động có sức công hiệu như một thứ dầu bôi trơn, đi qua được mọi ngõ ngách khó khăn, phức tạp nhất.

Sau đó cứ vài ba ngày trung úy L., trưởng ban giáo dục trại K2 lại đến đội rau của chúng tôi để thưởng thức nhạc rậm rịch, và nghe vọng cổ … Ông già Thượng tọa của chúng tôi tất nhiên là được yên thân, cái đề nghị “kiên giam” của chuẩn úy Kh. vẫn còn nằm trong ngăn kéo, chưa được thi hành. Trong một dịp trung úy L. đến đội rau, ông già Thượng tọa còn đề nghị là đồng bào ở đây tật bệnh còn nhiều quá, người thiểu số sống theo quán tính từ xưa để lại, chưa biết phép vệ sinh, chưa biết đến y khoa. Có những tật bệnh chữa được mà không chịu chữa, hay là không có người chữa, không có thuốc chữa. Như sốt rét uống nước măng chua, sâu quảng chỉ rửa nước suối và đắp lá làm sao mà khỏi. Nay Bác sĩ VN, sau giờ khám bệnh buổi sáng gần như hết việc nên Bác sĩ VN tình nguyện đi theo anh em “diện rộng”, những anh em khỏe mạnh lên rừng lấy nứa, lấy tre, lấy gỗ … để nhân đó đi tới các bản làng xung quanh khám bệnh cho đồng bào. Bác sĩ “khùng” muốn đi ra ngoài cho đỡ tù chân, vướng cẳng và cũng muốn nhân dịp này giúp đỡ đôi chút cho đồng bào. Hai bệnh phổ biến nhất ở đây là sốt rét và sâu quảng. Trước khi đề nghị của ông già Thượng tọa và Bác sĩ VN được chấp thuận, “ông hoàng của tù” cựu đại tá an ninh Nguyễn Văn Hãn đã phải thưa với mấy vị linh mục vốn sẵn thuốc và gửi cấp tốc thư về nhà để xin tiếp tế ngay thuốc Penicilline bột và thuốc chống sốt rét cùng với thuốc tím, bông băng. Khi bác sĩ VN được chấp thuận mỗi tuần 2 lần đi theo anh em diện rộng lên rừng thì chiều chiều trước khi vô buồng ở lán già yếu và đội rau chúng tôi lại có cuộc họp. Bác sĩ VN ra đơn thuốc, ông hoàng của tù sửa soạn thuốc từng trường hợp. Bác sĩ VN dặn dò mấy anh em diện rộng cầm những phong thuốc ấy trao cho từng người bệnh ở làng bản xung quanh. Bác sĩ VN kể lại rằng: làm cho đồng bào thiểu số ở đây uống thuốc chống sốt rét không phải là dễ. Đưa thuốc cho đồng bào thì đồng bào không uống. Một phần vì không tin tưởng, phần khác vì tuyên truyền của chính quyền Cộng sản cho rằng tù nhân ở đây là tụi uống máu người không tanh, chuyên hãm hiếp đàn bà, cắn cổ trẻ con nên phải tránh cho xa. Kẹo, bánh, thuốc men của chúng là thuốc độc cho nên có cho thuốc đồng bào cũng không dám uống. Thằng nhỏ ngất đi bên bờ suối được anh em tù chữa chạy, rồi tặng thuốc men, quần áo, cái chân sâu quảng đã lành rồi nhưng dân thiểu số ở tản mác trên rừng núi, chưa gây được tiếng vang sâu rộng. Họ bớt e ngại đi, điều đó rõ ràng, nhưng vẫn chưa tin. Muốn cho đồng bào uống thuốc Bác sĩ “khùng” phải trình bày thật cặn kẽ cho đồng bào rõ: “Tôi và anh em tôi đi rừng đều không sốt rét vì chúng tôi uống thuốc này.” Bác sĩ VN đưa ra 2 viên thuốc giống nhau. “Bạn chỉ cho tôi một viên thuốc đi, viên nào cũng được, rồi tôi uống trước mắt cho bạn coi. Thuốc này ngừa sốt rét, ngã nước.” Đồng bào thiểu số chỉ một viên thuốc. Bác sĩ VN cầm viên thuốc đó uống liền. Uống xong vẫn thấy khỏe như thường. Không sao. Không phải là thuốc độc. Một lúc sau, đồng bào thiểu số mới chịu uống viên thuốc còn lại. Người thiểu số không uống thuốc Tây bao giờ nên khi uống vô, nó công hiệu liền liền, cứ như thần dược. Ai uống thuốc của Bác sĩ “ngụy” cho đều dứt sốt rét, mắt bớt vàng, chân phù, bụng chướng đều thuyên giảm. Cái bệnh sâu quảng còn dễ nữa. Cứ rửa nước sôi để nguội pha thuốc tím, hết thuốc tím thì pha nước muối cũng được, rồi rắc penicilline bột, băng bó lại cho khỏi ruồi bu muỗi đốt là vài tuần sau, vết thương sâu quảng “kín miệng” liền. Không những chữa cho đồng bào ở xung quanh, vợ con cán bộ ở trại có đau cái gì cũng là một tay Bác sĩ VN. Ông bao hết chữa hết. Gọi là “cán bộ” nhưng họ có gì đâu. Một gian nhà trống trải trên đồi, vợ chồng con cái sống lây lất chỉ hơn tù 1 chút. Tù ăn 13 kí gạo, cán bộ ăn 15 kí. Tù phải ăn độn sắn khô, cán bộ ăn độn sắn tươi hay khoai lang, khoai sọ. Trường học, bệnh xá thì ở ngoài huyện Như Xuân cách đây hàng 7, 8 cây số. Mấy đứa trẻ học trò người địa phương, cùng con cán bộ, mùa lạnh mà đi học buổi sớm, quần áo phong phanh, mặt mũi tím bầm vừa đi vừa xuýt xoa. Chúng phải đi từ sớm mới kịp giờ học Trời mùa đông, 6, 7 giờ sương chưa tan. Những đứa trẻ đi học, mỗi đứa cầm một ngọn đuốc bằng nứa trên có miếng giẻ tẩm dầu trám. Đuốc cháy leo lét, những cái đuốc này không phải chỉ để soi đường mà có lẽ để cho chúng đỡ tê đỡ cóng trên con đường rừng buổi sớm. Những ánh đuốc đã xa, chập chờn trong sương sớm. Ông bạn tù già của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long, nhìn theo khe khẽ thở dài …

(1993)